Mã HS nhóm 2844 – Các nguyên tố hóa học phóng xạ và các đồng vị phóng xạ (kể cả các nguyên tố hóa học và các đồng vị có khả năng phân hạch hoặc làm giầu) và các hợp chất của chúng; hỗn hợp và các phế liệu có chứa các sản phẩm trên

Áp dụng theo Biểu thuế XNK 2026 (hiệu lực từ 01/01/2026)

Các nguyên tố hóa học phóng xạ và các đồng vị phóng xạ (kể cả các nguyên tố hóa học và các đồng vị có khả năng phân hạch hoặc làm giầu) và các hợp chất của chúng; hỗn hợp và các phế liệu có chứa các sản phẩm trên (nhóm HS 2844) gồm 11 mã HS 8 chữ số. Thuế suất nhập khẩu ưu đãi 0%. Thuế GTGT (VAT) 8% hoặc 10%. Bảng dưới đây liệt kê đầy đủ mã HS 8 chữ số kèm mô tả, đơn vị tính, thuế suất nhập khẩu ưu đãi, thuế nhập khẩu thông thường và thuế GTGT.

Mã HSMô tả (VN)Mô tả (EN)ĐVTNK ưu đãiNK thông thườngVAT
2844Các nguyên tố hóa học phóng xạ và các đồng vị phóng xạ (kể cả các nguyên tố hóa học và các đồng vị có khả năng phân hạch hoặc làm giầu) và các hợp chất của chúng; hỗn hợp và các phế liệu có chứa các sản phẩm trên
284410- Urani tự nhiên và các hợp chất của nó; hợp kim, các chất phân tán (kể cả gốm kim loại), sản phẩm gốm và hỗn hợp có chứa urani tự nhiên hoặc các hợp chất urani tự nhiên:
28441010- - Urani tự nhiên và các hợp chất của nó- - Natural uranium and its compoundskg058/10
28441090- - Loại khác- - Otherkg058/10
284420- Urani đã làm giàu thành U 235 và hợp chất của nó; plutoni và hợp chất của nó; hợp kim, các chất phân tán (kể cả gốm kim loại), các sản phẩm gốm và các hỗn hợp có chứa urani đã được làm giàu thành U 235, plutoni hoặc hợp chất của các sản phẩm này:
28442010- - Urani đã làm giàu thành U 235 và hợp chất của nó; plutoni và hợp chất của nó- - Uranium enriched in U 235 and its compounds; plutonium and its compoundskg058/10
28442090- - Loại khác- - Otherkg058/10
284430- Urani đã được làm nghèo thành U 235 và các hợp chất của nó; thori và các hợp chất của nó; hợp kim, các chất phân tán (kể cả gốm kim loại), sản phẩm gốm kim loại và các hỗn hợp chứa urani đã được làm nghèo thành U 235, thori hoặc các hợp chất của các sản phẩm trên:
28443010- - Urani đã làm giàu thành U 235 và hợp chất của nó; thori và hợp chất của nó- - Uranium depleted in U 235 and its compounds; thorium and its compoundskg058/10
28443090- - Loại khác- - Otherkg058/10
- Nguyên tố phóng xạ và đồng vị phóng xạ và các hợp chất trừ loại thuộc phân nhóm 2844.10, 2844.20 hoặc 2844.30; hợp kim, các chất phân tán (kể cả gốm kim loại), các sản phẩm gốm và các hỗn hợp có chứa các nguyên tố, đồng vị hoặc các hợp chất trên; chất thải phóng xạ:
28444100- - Triti và các hợp chất của nó; hợp kim, chất phân tán (kể cả gốm kim loại), các sản phẩm gốm và các hỗn hợp chứa triti hoặc các hợp chất của nó- - Tritium and its compounds; alloys, dispersions (including cermets), ceramic products and mixtures containing tritium or its compoundskg058/10
28444200- - Actini-225, actini-227, californi-253, curi-240, curi-241, curi-242, curi-243, curi-244, einsteini-253, einsteini-254, gadolini-148, poloni-208, poloni- 209, poloni-210, radi-223, urani-230 hoặc urani-232, và các hợp chất của chúng; hợp kim, chất phân tán (kể cả gốm kim loại), các sản phẩm gốm và các hỗn hợp chứa các nguyên tố hoặc các hợp chất này- - Actinium-225, actinium-227, californium-253, curium-240, curium-241, curium-242, curium-243, curium-244, einsteinium-253, einsteinium-254, gadolinium-148, polonium-208, polonium-209, polonium-210, radium-223, uranium-230 or uranium-232, and their compounds; alloys, dispersions (including cermets), ceramic products and mixtures containing these elements or compoundskg058/10
28444300- - Các nguyên tố, đồng vị và hợp chất phóng xạ khác; hợp kim khác, chất phân tán khác (kể cả gốm kim loại), các sản phẩm gốm và các hỗn hợp khác chứa các nguyên tố, đồng vị hoặc hợp chất này- - Other radioactive elements and isotopes and compounds; other alloys, dispersions (including cermets), ceramic products and mixtures containing these elements, isotopes or compoundskg058/10
28444400- - Phế liệu phóng xạ- - Radioactive residueskg058/10
28445000- Hộp (cartridges) nhiên liệu đã bức xạ của lò phản ứng hạt nhân- Spent (irradiated) fuel elements (cartridges) of nuclear reactorskg058/10

Chú giải nhóm 2844

28.44 - Các nguyên tố hóa học phóng xạ và các đồng vị phóng xạ (kể cả các nguyên tố hóa học và các đồng vị có khả năng phân hạch hoặc làm giàu) và các hợp chất của chúng; hỗn hợp và các phế liệu có chứa các sản phẩm trên.

2844.10 - Uranium tự nhiên và các hợp chất của nó; hợp kim, các chất tán xạ (kể cả gốm kim loại), sản phẩm gốm và hỗn hợp có chứa urani tự nhiên hoặc hợp chất urani tự nhiên

2844.20 - Urani đã làm giàu thành U 235 và hợp chất của nó; pluton và hợp chất của nó; hợp kim, các chất tán xạ (kể cả gốm kim loại), sản phẩm gốm và các chất hỗn hợp có chứa urani đã làm giàu thành U 235, plutoni hay hợp chất của các sản phẩm này

2844.30 - Urani đã được làm nghèo thành U 235 và các hợp chất của nó; thori và các hợp chất của nó; hợp kim, các chất tán xạ (kể cả gốm kim loại), sản phẩm gốm kim loại và các chất hỗn hợp chứa urani đã được làm nghèo thành U 235, thori hay các hợp chất của các sản phẩm trên

- Nguyên tố phóng xạ, đồng vị phóng xạ và các hợp chất trừ loại thuộc phân nhóm 2844.10, 2844 .20 hoặc 2844.30; hợp kim, các chất tán xạ (kể cả gốm kim loại), sản phẩm gốm và các chất hỗn hợp có chứa các nguyên tố này, đồng vị hoặc các hợp chất trên; chất thải phóng xạ

2844.41 - - Triti và các hợp chất của nó; hợp kim, chất phân tán (kể cả gốm kim loại), các sản phẩm gốm và các hỗn hợp chứa triti hoặc các hợp chất của nó

2844.42 - - Actini-225, actini-227, californi-253, curi-240, curi-241, curi-242, curi- 243, curi-244, einsteini-253, einsteini-254, gadolini-148, poloni-208, poloni-209, polini-210, radi-223, urani-230 hoặc urani-232, và các hợp chất của chúng; hợp kim, chất phân tán (kể cả gốm kim loại), các sản phẩm gốm và các hỗn hợp chứa các nguyên tố hoặc các hợp chất này

2844.43 - - Các nguyên tố, đồng vị và hợp chất phóng xạ khác; hợp kim khác, chất phân tán khác (kể cả gốm kim loại), các sản phẩm gốm và các hỗn hợp khác chứa các nguyên tố, đồng vị hoặc hợp chất này

2844.44 - - Phế liệu phóng xạ

2844.50 - Hộp (cartridges) nhiên liệu đã bức xạ của lò phản ứng hạt nhân

(I) ĐỒNG VỊ Hạt nhân của một nguyên tố được xác định bởi số nguyên tử của nó, luôn chứa cùng số lượng như vậy các hạt proton, nhưng chúng có thể có số lượng notron khác nhau và, vì vậy, sẽ có sự khác nhau về khối lượng (khác nhau về số khối lượng). Những hạt nhân chỉ khác về số khối lượng mà không khác về số nguyên tử, thì được gọi là đồng vị của nguyên tố đó. Ví dụ, có một vài hạt nhân có cùng số nguyên tử là 92, đều được gọi là Urani, nhưng số khối lượng lại có thể giao động trong khoảng từ 277 đến 240; chúng được định rõ, ví dụ, như urani 233, urani 235, urani 238,... Tương tự, hydro 1, hydro 2 hoặc deuterium (đã phân loại ở nhóm 28.45) và hydro 3 hoặc tritium là đồng vị của hydro. Yếu tố quan trọng trong tác động hóa học của một nguyên tố là gắn với số điện tích dương có được ở hạt nhân (số proton); nó quyết định số điện tử bao quanh, điều này ảnh hưởng thực sự tới đặc tính hóa học. Vì lẽ đó, nhiều đồng vị khác nhau của một nguyên tố mà hạt nhân của nó có độ tích điện giống nhau nhưng khác nhau về khối lượng, sẽ có đặc tính hóa học giống nhau nhưng tính chất vật lý sẽ biến thiên từ đồng vị này sang đồng vị khác Nguyên tố hóa học bao gồm hoặc của một hạt nhân đơn (nguyên tố đồng vị đơn (monoisotopic) hoặc của hỗn hợp từ hai hay nhiều đồng vị với tổng số không thay đổi như đã biết. Ví dụ, clo tự nhiên, ở cả trạng thái tự do và kết hợp, luôn là một hỗn hợp gồm 75,4% clo 35 và 24,6% clo 37 (điều này tạo cho nó trọng lượng nguyên tử là 35.457). Khi một nguyên tố bao gồm hỗn hợp các đồng vị, các phần cấu thành của nó có thể bị phân chia, ví dụ bằng cách khuếch tán qua một ống xốp, phân chia bằng điện trường hoặc bởi điện phân từng phần. Đồng vị cũng có thể tạo ra bằng cách bắn phá các nguyên tố tự nhiên với các notron hoặc các hạt đã được nạp năng lượng rất lớn. Đối với mục đích của Chú giải 6 của Chương này và của nhóm 28.44 và 28.45, thuật ngữ đồng vị bao hàm không chỉ các đồng vị ở trạng thái tinh khiết mà cả các nguyên tố hóa học mà thành phần đồng vị tự nhiên đã được cải biến nhân tạo bằng cách làm giàu các nguyên tố ở một vài đồng vị của chúng (cũng tương tự như việc làm nghèo chúng ở một số đồng vị khác) hoặc bằng cách biến đổi, qua một phản ứng hạt nhân, chuyển thành dạng đồng vị khác, đồng vị nhân tạo. Ví dụ: clo trọng lượng nguyên tử là 35,30 được tạo ra bởi làm giàu nguyên tố này với hàm lượng 85% clo 35 (và tương ứng với việc làm nghèo nguyên tố này với hàm lượng 15% clo 37) cũng được coi là một đồng vị. Cũng cần lưu ý rằng các nguyên tố tồn tại ở trong tự nhiên ở trạng thái đồng vị đơn (1 đồng vị), ví dụ Beri 9, Flo 19, Nhôm 27, Photpho 31, Magan 55,... không được coi là đồng vị, nhưng vẫn được phân loại, hoặc ở trạng thái tự do hoặc hỗn hợp, tùy theo từng trường hợp, trong các nhóm cụ thể liên quan tới các nguyên tố hóa học hoặc hợp chất của chúng. Tuy nhiên, các đồng vị phóng xạ của cùng các nguyên tố này được tạo ra bằng cách nhân tạo (ví dụ, Be 10, F 18, Al 29, P 32, Mn 54), cũng được coi là đồng vị. Do các nguyên tố hóa học nhân tạo (thông thường với số nguyên tử lớn hơn 92, hoặc là các nguyên tố có tính phóng xạ cao (có số lượng nguyên tử cao hơn urani)) không có thành phần đồng vị cố định mà chỉ có thành phần thay đổi tùy theo phương pháp chế tạo nguyên tố, trong các trường hợp này không thể phân biệt giữa nguyên tố hóa học và các đồng vị của nó theo như mục đích của Chú giải 6. Nhóm này chỉ bao gồm những đồng vị đó mà có hiện tượng của chất phóng xạ (miêu tả dưới đây); Ngoài ra, các đồng vị bền vững được phân loại ở nhóm 28.45).

(II) TÍNH PHÓNG XẠ Một số hạt nhân, hạt nhân không bền vững, hoặc ở trạng thái tinh khiết hoặc ở dạng hợp chất, phát ra các tia phóng xạ hỗn hợp tạo ra hiệu ứng vật lý hoặc hóa học như là:

(1) Ion hóa khí.

(2) Phát huỳnh quang.

(3) Làm mờ bản ảnh. Hiệu ứng này làm cơ sở để phát hiện các chùm tia này và để đo cường độ chúng bằng cách , ví dụ, ống đếm Geiger - Muller, ống đếm số lượng, thành phần buồng ion hóa, buồng Wilson, ống đếm lưu lượng, ống đếm tia lửa, và các loại phim hoặc tấm nhạy. Đây là hiện tượng mang tính phóng xạ, các nguyên tố hóa học, các đồng vị, các hợp chất và, nói chung, các chất được trình bày ở đây được gọi là phóng xạ.

(III) CÁC NGUYÊN TỐ HÓA HỌC PHÓNG XẠ, CÁC ĐỒNG VỊ PHÓNG XẠ VÀ HỢP CHẤT CỦA CHÚNG; HỖN HỢP VÀ CÁC PHẾ LIỆU CÓ CHỨA CÁC SẢN PHẨM TRÊN.

(A) Các nguyên tố phóng xạ. Trong nhóm này gồm các nguyên tố hóa học phóng xạ đã nêu ở Chú giải 6(a) của Chương này, cụ thể là: tecneti, promethi, poloni và tất cả các nguyên tố có số nguyên tử lớn hơn, như là astatin, radon, franci, radi, actini, thori, protactini, urani, neptuni, plutoni, americi, curi, berkeli, californi, einsteini, fermi, mendelevi, nobeli và lawrenci. Chúng là các nguyên tố nói chung bao gồm một vài đồng vị mà tất cả đều có tính phóng xạ. Mặt khác, có các nguyên tố bao gồm các hỗn hợp các đồng vị phóng xạ và bền vững như là Kali, Rubi, Samari và Luteti (nhóm 28.05), mà vì các đồng vị phóng xạ này có tính phóng xạ ở mức độ thấp và cấu thành tỷ lệ hỗn hợp tương đối thấp, thì có thể xem như thực sự ổn định và như vậy không xếp vào nhóm này. Mặt khác, cũng giống các nguyên tố đó (Kali, Rubi, Sarnari, Luteri), nếu đã được làm giàu các đồng vị phóng xạ của chúng (K40, Rb 87, Srn 147, Lu 176, tương ứng), sẽ được coi là đồng vị phóng xạ của nhóm này.

(B) Đồng vị phóng xạ. Với các đồng vị phóng xạ tự nhiên như K 40, Rb 87, Srn 147 và Lu 176 đã được nhắc đến, có thể thêm urani 235 và urani 238, nó được thảo luận chi tiết hơn ở Phần IV dưới đây, và một vài đồng vị của thali, chì, bismut, poloni, radi, actini hoặc thori, chúng thường được biết đến dưới cái tên khác với tên của nguyên tố tương ứng. Tên này thiên về nguyên tố mà chúng được tạo ra qua chuyển hóa phóng xạ. Do đó, bismut 210 được gọi là radium E, polonium 212 được gọi là thorium C’ và actinium 228 được gọi là mezothorium II. Các nguyên tố hóa học mà thông thường ổn định có thể trở thành chất phóng xạ hoặc sau khi bị bắn phá với các hạt có động năng rất lớn (proton, dơtoron) phát sinh từ máy gia tốc hạt (cyclotron, synchroton,...) hoặc sau khi hấp thụ nơtron trong một lò phản ứng hạt nhân. Những nguyên tố chuyển hóa như vậy được gọi là đồng vị phóng xạ nhân tạo. Thuộc về loại này hiện có khoảng 500 loại, trong đó có gần 200 đang được ứng dụng thực tế. Ngoài urani 233 và đồng vị plutoni, được thảo luận sau đây, một số quan trọng nhất đó là: hydro 3 (triti), cacbon 14, natri 24, phospho 32, lưu huỳnh 35, kali 42, canxi 45, crom 51, sắt 59, coban 60, kryton 85, stronti 90, ytri 90, paladi 109, Iod 131 và 132, xenon 133, caesi 137, thuli 170, iridi 192, vàng 198, và poloni 210. Các nguyên tố hóa học phóng xạ và đồng vị phóng xạ tự chúng chuyển hóa thành dạng nguyên tố hoặc đồng vị bền vững hơn. Thời gian cần cho một lượng của đồng vị phóng xạ nhất định giảm đi một nửa từ khi xuất hiện được gọi là nửa vòng đời hoặc gọi là chu kỳ bán rã của đồng vị đó. Nó thay đổi từ một phần của một giây đối với một số đồng vị phóng xạ cao (thori C’ là 0,3 x 10-6) tới hàng tỷ của năm (Sarmari 147 là 1,5 x 1011 năm ) và là một thước đo phù hợp về sự không ổn định thống kê của hạt nhân liên quan. Các nguyên tố hóa học phóng xạ và đồng vị được xếp vào nhóm này, thậm chí kể cả khi ở dạng hỗn hợp hoặc với hợp chất phóng xạ, hoặc với các nguyên liệu không mang tính phóng xạ (ví dụ, mục tiêu đã bức xạ và nguồn phóng xạ chưa chế biến), có hoạt độ phóng xạ lớn hơn 74 Bg/g (0,002 µCi/g).

(C) Các hợp chất phóng xạ; hỗn hợp và các phế liệu có chứa các chất phóng xạ. Các nguyên tố hóa học phóng xạ và đồng vị trong nhóm này thường được sử dụng ở dạng hợp chất hoặc các sản phẩm được “dán nhãn” (ký hiệu riêng) (có nghĩa là, chứa các phân tử có 1 hoặc nhiều hơn 1 nguyên tử phóng xạ). Các hợp chất như thế vẫn được phân loại trong nhóm này, thậm chí khi bị hòa tan hoặc bị phân tán, hoặc trộn lẫn tự nhiên hoặc nhân tạo với, các vật liệu phóng xạ hoặc không phóng xạ. Các nguyên tố hóa học và đồng vị này cũng được phân loại trong nhóm này khi ở dạng hợp kim, tán xạ hoặc gốm kim loại. Các hợp chất vô cơ hoặc hữu cơ, hoặc dạng khác về mặt hóa học tạo thành các nguyên tố hóa học phóng xạ hoặc đồng vị phóng xạ, và dung dịch của chúng, cũng được xếp trong nhóm này, thậm chí nếu hoạt tính phóng xạ của các hợp chất hoặc dung dịch này thấp hơn 74 Bq/g (0,002 μCi/g); mặt khác, hợp kim, chất tán xạ (kể cả gốm kim loại), các sản phẩm sứ và các hỗn hợp có chứa các chất phóng xạ (các nguyên tố, đồng vị hoặc hợp chất của nó) được xếp vào trong nhóm này nếu hoạt tính phóng xạ của chúng lớn hơn 74 Bq/g (0.002 μCi/g). Các nguyên tố phóng xạ và đồng vị rất ít được sử dụng ở dạng tự do, trong thương mại, chúng có thể ở dạng hợp chất hóa học hoặc hợp kim. Trừ các hợp chất của nguyên tố hóa học ở dụng có thể tách được và được làm giầu, mà được nêu ở Phần (IV) dưới đây là do đặc tính và tầm quan trọng của chúng, các hợp chất phóng xạ quan trọng nhất là:

(1) Muối radi (clorua, bromua, sulphat,...) được dùng làm nguồn phóng xạ cho điều trị ung thư hoặc cho các một số thực nghiệm trong vật lý.

(2) Các hợp chất đồng vị phóng xạ đã đề cập theo mục (III) (B) ở trên. Các chất đồng vị phóng xạ nhân tạo và hợp chất của chúng được sử dụng:

(a) Trong công nghiệp, ví dụ, cho chiếu chụp kim loại, để đo độ dày của thanh, phiến....; để đo mức chứa lỏng container mà không tiếp cận được; hoặc tạo điều kiện thuận lợi cho lưu hóa; gây ra polyme hóa hoặc ghép các hợp chất hữu cơ riêng biệt; cho sản xuất sơn phát quang (ví dụ, trộn với ZnS); cho mặt đồng hồ, các dụng cụ máy móc,...

(b) Trong y học, ví dụ, cho chẩn đoán hoặc điều trị một số bệnh (coban 60, lod 131, vàng 198, phospho 32....).

(c) Trong nông nghiệp, ví dụ, cho thanh trùng sản phẩm nông nghiệp; ngăn sự nảy mầm; cho nghiên cứu việc áp dụng phân bón hoặc hấp thụ phân bón của cây trồng; làm biến đổi gen như cải tiến giống.... (coban 60, Caesi 137, phospho 32,...).

(d) Trong sinh học, ví dụ, cho nghiên cứu chức năng hoặc sự phát triển của một số cơ quan động vật hoặc thực vật (triti, cacbon 14, natri 24, phospho 32, lưu huỳnh 35, kali 42, canxi 45, sắt 59, stronti 90, lod 131....).

(e) Trong nghiên cứu vật lý và hóa học Các đồng vị phóng xạ và hợp chất của nó thông thường được tạo ra ở dạng bột, dung dịch, hình kim, sợi hoặc mảnh. Chúng thường được đựng trong ống thủy tinh, trong kim platin rỗng, trong các ống bằng thép không gỉ,… chúng được đóng trong các thùng chứa bên ngoài có lớp kim loại chống phóng xạ (thông thường là chì), lựa chọn độ dày của lớp vỏ bọc phụ thuộc mức độ phóng xạ của các đồng vị. Theo một số hiệp định quốc tế, một nhãn đặc biệt phải được dẫn vào thùng chứa, cung cấp các đặc thù đồng vị liên quan và mức độ phóng xạ của nó. Các hỗn hợp có thể bao gồm một số nguồn nơtron nhất định hình thành bằng cách kết hợp (trong một hỗn hợp, hợp kim, hợp chất....) một nguyên tố phóng xạ hoặc đồng vị (radi, radon, antimon 124, americi 241....) với nguyên tố khác (beri, flo,...) theo cách như thế, để tạo ra một phản ứng (γ,n) hoặc (α,n) (dựa vào một γ-photon hoặc một hạt α (hạt α), tùy trường hợp, và làm bắn ra một neutron). Tuy vậy, tất cả các nguồn neutron đã được tập hợp lại, sẵn sàng được đưa vào các lò phản ứng hạt nhân để bắt đầu một phản ứng dây truyền phân hạch, sẽ được coi như các bộ phận hợp thành lò phản ứng và vì vậy được phân loại ở nhóm 84.01. Các vi hạt của nhiên liệu hạt nhân được phủ các lớp cacbon hoặc silic cacbua với mục đích đưa vào thành các thành phần nhiên liệu hình cầu hoặc hình lăng trụ được xếp ở nhóm này. Cũng bao gồm trong nhóm này là các sản phẩm được sử dụng làm chất phát quang, mà chúng có một lượng nhỏ các chất phóng xạ thêm vào để làm tự phát quang, với điều kiện là các chất phóng xạ có độ phóng xạ lớn hơn 74 Bq/g (0,002 μCi/g). Trong các chất thải phóng xạ, cái quan trọng nhất xét trên quan điểm tái sử dụng là:

(1) Nước nặng đã được chiếu xạ hoặc Triti hóa: sau khi tồn tại một thời gian dài khác nhau trong lò phản ứng, một vài deuterium ở dạng nước nặng bị chuyển hóa, bằng cách hấp thụ các hạt neutron, để thành tritium và như vậy nước nặng lại trở nên có tính phóng xạ.

(2) Khối nhiên liệu đã qua sử dụng (bức xạ) (Cartidge), nhìn chung hoạt độ phóng xạ rất cao. chủ yếu được dùng cho mục đích thu hồi lại các chất có khả năng phân tách và kết hợp có chứa trong chúng (xem Phần (IV) dưới đây).

(IV) CÁC NGUYÊN TỐ HÓA HỌC VÀ ĐỒNG VỊ VÀ CÁC HỢP CHẤT CỦA CHÚNG CÓ KHẢ NĂNG PHÂN TÁCH VÀ LÀM GIÀU; HỖN HỢP VÀ PHẾ LIỆU CÓ CHỨA CÁC HỢP CHẤT ĐÓ.

(A) Các nguyên tố hóa học và đồng vị có khả năng phân tách và kết hợp Một số các nguyên tố hóa học và đồng vị đã được nêu trong Phần (III) có khối lượng nguyên tử lớn, ví dụ thori, urani, plutoni và americi, mà ở chúng các hạt nhân nguyên tử có cấu trúc phức tạp đặc biệt. Các hạt nhân này, khi phải chịu tác động của các hạt nguyên tử (nơtron, proton, duetoron, triton, hạt α,...) có thể hấp thụ những hạt đó, do vậy làm tăng tính không ổn định của chúng tới mức độ đủ để làm nguyên nhân gây ra tách chia chúng thành 2 hạt nhân có khối lượng trung bình so với khối lượng của các chất gần kề (hoặc hiếm hơn thành 3 hoặc 4 mảnh). Sự phân giải này giải phóng một năng lượng lớn và kèm theo bởi sự hình thành các nơtron thứ cấp. Quá trình này gọi là sự phân hạch hoặc sự phân đôi hạt nhân. Sự phân hạch này thực tế rất ít khi xảy ra tự phát hoặc chỉ dưới tác dụng của các photon mới xảy ra. Các natron thứ cấp được giải phóng ở thời gian phân rã và có thể là nguyên nhân để tạo sự phân rã lần thứ hai và như vậy sẽ làm tăng các hạt natron thứ cấp và cứ tiếp tục xảy ra như vậy. Sự lập lại của quá trình này gọi là phản ứng dây truyền Xác suất của sự phân hạch thông thường là rất cao đối với một số hạt nhân (U 233, U 235, Pu 239) nếu các hạt notron chậm được sử dụng, nghĩa là hạt notron có tốc độ trung bình khoảng 2.200 m/giây (hoặc năng lượng của 1/40 electron volt (eV). Vì tốc này xấp xỉ với tốc độ của các phân tử dạng lỏng (chuyển động nhiệt) thì các hạt notron chậm này đôi khi cũng được gọi là hạt notron nhiệt. Hiện nay, sự phân hạch mà có nguyên nhân từ các hạt natron nhiệt được sử dụng hầu hết trong các lò phản ứng hạt nhân. Về lý do này, thuật ngữ phân hạch được sử dụng thông dụng cho việc miêu tả các đồng vị qua sự phân hạch bởi các nơtron nhiệt, đặc biệt là urani 233, urani 235, plutoni 239 và các nguyên tố hóa học có chứa trong chúng, đặc biệt là urani và plutoni. Các hạt nhân khác, như urani 238 và thori 232 chỉ chịu phân rã trực tiếp bởi các notron nhanh và thường coi đây không phải là quá trình phân hạch mà gọi là kết hợp. Sự “kết hợp” này bắt nguồn từ thực tế rằng, các hạt nhân này có khả năng hấp thụ các notron chậm dẫn tới việc hình thành plutoni 239 và urani 233 tương ứng, chúng là phân hạch. Trong các lò phản ứng hạt nhân (với các notron đã được làm chậm xuống), khi năng lượng của các notron thứ cấp giải phóng bởi quá trình phân hạch là cao hơn nhiều (khoảng 2 triệu eV), thì các notron phải được hãm lại nếu như phản ứng dây truvền này xảy ra. Điều này có thể đạt được bằng cách sử dụng bộ điều chỉnh, có nghĩa là các sản phẩm với khối nguyên tử tháp (như nước, nước nặng, một số các hydro cacbon, graphit, bori,...) mà mặc dù chúng hấp thụ phần năng lượng của các notron thông qua các chuỗi va chạm, bản thân chúng không hấp thụ các notron hoặc chỉ hấp thụ một phần không đáng kể. Để khởi động và duy trì một phản ứng dây truyền, thì số lượng trung bình của các notron thứ cấp được tạo ra bởi sự phân hạch phải nhiều hơn bù lại số notron đã mất do hiện tượng hao hụt và mất mát không dẫn tới việc phân hạch. Các nguyên tố hóa học phân hạch và hợp hạch được kể dưới đây là:

(1) Urani tự nhiên. Urani ở trạng thái tự nhiên bao gồm 3 đồng vị: urani 238, dạng này chứa 99,28% tổng số khối lượng, urani 235 chiếm 0,71%, và một lượng không đáng kể (khoảng 0.006%) của urani

234. Vì vậy, nó có thể được xem là cả nguyên tố phân hạch (vì nó có hàm lượng urani 235) và nguyên tố hợp hạch (vì nó có hàm lượng urani 238). Urani chủ yếu được tách ra từ pitchblende, uraninite, autunitc, brannerite, camotitc hoặc torbemite. Nó cũng có thể thu dược từ nguồn thứ cấp khác, chẳng hạn từ cặn bã trong quá trình sản xuất superphosphat hoặc chất thải trong mỏ vàng. Quy trình thông thường là khử tetralluorua bằng canxi hoặc magic, hoặc bằng cách điện phân. Urani là nguyên tố phóng xạ yếu, rất nặng (tỷ trọng 19) và cứng. Nó có bề mặt màu xám bạc bóng nhẵn, nhưng bị xỉn đi khi dễ tiếp xúc với oxy của không khí, tạo thành oxit. Ở dạng bột nó bị oxy hóa và bị đốt cháy nhanh chóng khi tiếp xúc với không khí. Urani ở thị trường thường có dạng thỏi để sẵn sàng cho việc đánh bóng, gọt dũa, cán mỏng (để tạo ra thanh, ống, lá, dây,...).

(2) Thori. Quặng Thorite và quặng orangite, dù rất giàu Thori, là rất hiếm, nên Thori chủ yếu thu được từ monazit mà loại này cùng là nguồn gốc của các kim loại đất hiếm. Dạng kim loại không tinh khiết có dạng bột màu xám có tính dẫn lửa cực cao. Nó thu được bằng cách điện phân của muối florua hoặc bằng cách khử florua, clorua hoặc oxit. Kim loại thu được sẽ được tinh lọc và thiêu kết trong môi trường khí trơ và tạo thành thỏi màu thép xám (tỷ trọng 11,5); chúng rất cứng (mặc dù có mềm hơn so với urani) và bị oxy hóa nhanh chóng ngoài không khí. Những thỏi này được cán, đẩy hoặc kéo để tạo thành các dạng lá, thanh, ống, dây.... Thori tự nhiên bao gồm chủ yếu là đồng vị thori 232. Thori và một số hợp kim của thori phần lớn được sử dụng làm nguyên liệu phân hạch trong lò phản ứng hạt nhân. Hợp kim thori-magie và thori-tungsten, được sử dụng trong công nghiệp hàng không hoặc trong sản xuất các thiết bị nhiệt. Các mặt hàng hoặc phần của hàng hóa, tạo ra từ thori của Phần XVI đến XIX được loại trừ khỏi nhóm này.

(3) Plutoni. Plutoni công nghiệp thu được bằng bức xạ uranni 238 trong một lò phản ứng hạt nhân. Nó rất nặng (tỷ trọng 19.8), có tính phóng xạ và độc tính cao. Nó có bề ngoài tương tự urani, và dễ bị oxy hóa. Thương phẩm của Plutoni tương tự như urani đã được làm giàu và đòi hỏi khi xử lý phải hết sức cẩn thận. Các đồng vị phân hạch bao gồm:

(1) Urani 233: nó thu được từ thori 232 trong lò phản ứng hạt nhân, mà lần lượt chuyển thành thori 233, protactini 233 và urani 233.

(2) Urani 235: đây là đồng vị phân hạch duy nhất của uran, nó tồn tại trong tự nhiên, chiếm 0,71% uran tự nhiên. Để thu được urani được làm giàu trong U 235 và urani được làm nghèo trong U 235 (loại làm giàu đi từ U 238), urani hexallorua được trải qua, phân tách đồng vị bằng các quá trình điện tử, ly tâm hoặc quá trình khuếch tán khí.

(3) Plutoni 239: thu được từ urani 238 trong lò phản ứng hạt nhân, nó được lần lượt chuyển sang dạng urani 239, neptuni 239 và plutoni 239. Cũng đã đề cập là một số đồng vị nhất định của nguyên tố plutoni chuyển tiếp từ californi 252, americi 241, curi 242 và curi 244, chúng có thể phát sinh ra sự phân hạch (hoặc tự phát hoặc không) và chúng được sử dụng làm nguồn nơtron mạnh. Trong số các đồng vị kết hợp, ngoài thori 232, urani đã làm nghèo (nghĩa là làm nghèo U 235 và vì vậy làm giàu U 238) phải được kể đến. Kim loại này là sản phẩm của quá trình sản xuất urani được làm giàu từ U 235. Bởi vì chi phí thấp hơn nhiều và số lượng lớn, nó có thể có được, nó thay thế cho urani tự nhiên, đặc biệt làm nguyên liệu kết hợp, như một mảng bảo vệ chống tia phóng xạ, như một kim loại nặng cho sản xuất bánh đà hoặc trong các chế phẩm hợp chất hấp phụ (hút khí) được sử dụng cho tinh chế một số khí gas. Các sản phẩm hoặc bộ phận sản phẩm, được tạo ra từ urani được làm nghèo từ U 235, của Phần XVI đến XIX được loại trừ khỏi nhóm này.

(B) Các hợp chất của các nguyên tố phân hạch và hợp hạch hoặc các đồng vị. Các hợp chất sau, đặc biệt được xếp vào nhóm này:

(1) của urani:

(a) oxit UO2, U3O8, và UO3

(b) florua UF4 và UF6 (chất sau thăng hoa ở 56°C)

(c) cacbua UC và UC2

(d) uranat Na2U2O7 và (NH4)U2O7

(e) uranyl nitrat UO2(NO3)2.6 H2O

(f) uranyl sulphat UO2SO4.3 H2O

(2) của plutoni:

(a) tetraflorua PuF4

(b) dioxit PuO2

(c) nitrat PuO2(NO3)2

(d) cacbua PuC và Pu2C3

(c) nitrua PuN Các hợp chất urani hoặc plutoni chủ yếu được sử dụng trong công nghiệp hạt nhân, hoặc như dạng trung gian hoặc như sản phẩm hoàn chỉnh. Urani hexaflorua thường được đựng trong đồ chứa đóng kín; nó khử độc và vì vậy phải cẩn thận khi xử lý.

(3) của thori:

(a) Dạng oxit và hydroxit, Thori oxil (ThO2) (thoria) là dạng bột màu vàng ánh trắng, không hòa tan trong nước. Dạng hydroxit (Th(OH)4) là thioria hydrat. Cả hai loại này đều thu được từ monazite. Chúng cũng được sử dụng trong sản xuất măng xông đèn ga, các vật liệu chịu lửa hoặc làm chất xúc tác (tổng hợp axeton). Dạng oxit được dùng làm nguyên liệu kết hợp trong các lò phản ứng hạt nhân

(b) các muối vô cơ. Các muối này thường có màu trắng. Quan trọng nhất là:

(i) thori nitrat, xuất hiện ở dạng ngậm nước dù ít hay nhiều hay dạng tinh thể, hoặc dạng bột (muối nung nitrat). Nó được sử dụng để điều chế sơn phát quang. Hỗn hợp với xeri nitrat được sử dụng để tẩm măng sông đèn khí;

(ii) thori sunphat, dạng bột kết tinh, hòa tan trong nước lạnh; thori hydro sunphat và muối kiềm sunphat kép;

(iii) thori clorua (ThCI4), dạng khan hoặc ngậm nước, và dạng oxyclorua;

(iv) thori nitrua và thori cacbua. Được sử dụng làm các sản phẩm chịu nhiệt, như vật liệu mài hoặc các nguyên liệu làm giàu trong lò phản ứng hạt nhân;

(c) các hợp chất hữu cơ. Hợp chất hữu cơ được biết nhiều nhất là thori fomat, axetat, tactrat và benzoat, tất cả được sử dụng trong y học.

(C) Các hợp kim, các chất tán xạ (bao gồm cả gồm kim loại), sản phẩm gốm, hỗn hợp và chất thải có chứa nguyên tố phân hạch hoặc hợp hạch hoặc đồng vị hoặc các hợp chất vô cơ hoặc hữu cơ của nó. Các sản phẩm chủ yếu trong nhóm này là:

(1) Hợp kim của urani hoặc plutoni với nhôm, croni, zirconi, molypden, titan, niobi hoặc vanadi. Cũng kể đến hợp kim urani- plutoni và hợp kim sắt -Urani.

(2) Dạng phân tán của urani dioxit (UO2) hoặc của urani cacbua (UC) (có hoặc không hỗn hợp với thori dioxit hoặc thori cacbua) trong graphit hoặc polyethylen.

(3) Gốm kim loại bao gồm các kim loại khác nhau (ví dụ. thép không gỉ) cùng với urani dioxit (UO2) plutoni dioxit (PuO2) urani cacbua (UC) hoặc plutoni cacbua (PuC) (hoặc các hợp chất này trộn với thori oxit hoặc cacbua). Các sản phẩm này ở dạng, thanh, tấm, bột, hình cầu, sợi,… được sử dụng hoặc cho sản xuất các thành phần nhiên liệu, hoặc đôi khi dùng trực tiếp trong lò phản ứng. Dụng thỏi, tấm và hình cầu, được đựng trong bao bì và gắn với các dạng đặc biệt dùng cho mục đích vận chuyển, được xếp vào nhóm 84.01.

(4) Bã hoặc các thành phần nhiên liệu đã chiếu xạ (cartridges), tức là các nhiên liệu sau ít nhiều lần sử dụng, phải được thay thế (bởi vì sự tích tụ của các sản phẩm phân hạch ngăn trở tới phản ứng dây truyền hoặc vì vỏ của nó bị hư hỏng). Sau khi bảo quản thời gian đủ lâu ở trong nước có độ rất sâu để làm lạnh chúng và để giảm tính phóng xạ của chúng, các khối nhiên liệu này được chuyển vào các đồ chứa đựng bằng chì, đến các cơ sở đặc biệt có đủ thiết bị để thu hồi các vật liệu phân hạch thái bỏ này, cùng như các nguyên liệu phân hạch xuất phát từ sự chuyển biến hoặc các thành phần hợp hạch (thường chứa trong các thành phần nhiên liệu) và của các sản phẩm phân hạch.

Câu hỏi thường gặp về mã HS 2844

Mã HS của Các nguyên tố hóa học phóng xạ và các đồng vị phóng xạ (kể cả các nguyên tố hóa học và các đồng vị có khả năng phân hạch hoặc làm giầu) và các hợp chất của chúng; hỗn hợp và các phế liệu có chứa các sản phẩm trên là gì?

Các nguyên tố hóa học phóng xạ và các đồng vị phóng xạ (kể cả các nguyên tố hóa học và các đồng vị có khả năng phân hạch hoặc làm giầu) và các hợp chất của chúng; hỗn hợp và các phế liệu có chứa các sản phẩm trên thuộc nhóm HS 2844, gồm 11 mã HS 8 chữ số (ví dụ: 28441010, 28441090, 28442010, 28442090, 28443010…). Xem bảng đầy đủ mã và thuế suất phía trên.

Thuế nhập khẩu Các nguyên tố hóa học phóng xạ và các đồng vị phóng xạ (kể cả các nguyên tố hóa học và các đồng vị có khả năng phân hạch hoặc làm giầu) và các hợp chất của chúng; hỗn hợp và các phế liệu có chứa các sản phẩm trên là bao nhiêu?

Thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi (MFN) của Các nguyên tố hóa học phóng xạ và các đồng vị phóng xạ (kể cả các nguyên tố hóa học và các đồng vị có khả năng phân hạch hoặc làm giầu) và các hợp chất của chúng; hỗn hợp và các phế liệu có chứa các sản phẩm trên là 0%. Thuế suất thông thường và ưu đãi đặc biệt theo hiệp định FTA có thể khác — xem chi tiết từng mã trong bảng.

Thuế GTGT (VAT) của Các nguyên tố hóa học phóng xạ và các đồng vị phóng xạ (kể cả các nguyên tố hóa học và các đồng vị có khả năng phân hạch hoặc làm giầu) và các hợp chất của chúng; hỗn hợp và các phế liệu có chứa các sản phẩm trên là bao nhiêu?

Thuế giá trị gia tăng (VAT/GTGT) áp dụng phổ biến là 8% hoặc 10%.

Các nguyên tố hóa học phóng xạ và các đồng vị phóng xạ (kể cả các nguyên tố hóa học và các đồng vị có khả năng phân hạch hoặc làm giầu) và các hợp chất của chúng; hỗn hợp và các phế liệu có chứa các sản phẩm trên có được ưu đãi thuế theo hiệp định FTA nào không?

Nhiều mã HS thuộc nhóm 2844 được hưởng thuế suất nhập khẩu ưu đãi đặc biệt theo các hiệp định thương mại tự do Việt Nam tham gia (ATIGA, ACFTA, CPTPP, EVFTA, RCEP…) khi có chứng nhận xuất xứ (C/O) phù hợp. Mức ưu đãi cụ thể tra theo từng mã HS.

Nhóm hàng liên quan (Chương 28)

Nguồn: Biểu thuế xuất nhập khẩu 2026 và các thông tư thuế GTGT hiện hành. Số liệu mang tính tham khảo, vui lòng đối chiếu văn bản gốc khi khai báo.

Dữ liệu tổng hợp bởi Weimex – công ty giao nhận vận tải (freight forwarder) tại Hà Nội. Công cụ tra cứu biểu thuế · Trang chủ