Mã HS nhóm 9601 – Ngà, xương, đồi mồi, sừng, nhánh gạc, san hô, xà cừ và các vật liệu chạm khắc có nguồn gốc động vật khác đã gia công, và các mặt hàng làm từ các vật liệu này (kể cả các sản phẩm đúc)

Áp dụng theo Biểu thuế XNK 2026 (hiệu lực từ 01/01/2026)

Ngà, xương, đồi mồi, sừng, nhánh gạc, san hô, xà cừ và các vật liệu chạm khắc có nguồn gốc động vật khác đã gia công, và các mặt hàng làm từ các vật liệu này (kể cả các sản phẩm đúc) (nhóm HS 9601) gồm 9 mã HS 8 chữ số. Thuế suất nhập khẩu ưu đãi 25%. Thuế GTGT (VAT) 8% hoặc 10%. Bảng dưới đây liệt kê đầy đủ mã HS 8 chữ số kèm mô tả, đơn vị tính, thuế suất nhập khẩu ưu đãi, thuế nhập khẩu thông thường và thuế GTGT.

Mã HSMô tả (VN)Mô tả (EN)ĐVTNK ưu đãiNK thông thườngVAT
9601Ngà, xương, đồi mồi, sừng, nhánh gạc, san hô, xà cừ và các vật liệu chạm khắc có nguồn gốc động vật khác đã gia công, và các mặt hàng làm từ các vật liệu này (kể cả các sản phẩm đúc)
960110- Ngà đã gia công và các vật phẩm bằng ngà:
96011010- - Hộp đựng xì gà hoặc thuốc lá điếu, bình đựng thuốc lá; đồ trang trí- - Cigar or cigarette cases, tobacco jars; ornamental articleskg/chiếc2537.58/10
96011090- - Loại khác- - Otherkg/chiếc2537.58/10
960190- Loại khác:
- - Xà cừ hoặc đồi mồi đã gia công và các sản phẩm làm từ chúng:
96019011- - - Hộp đựng xì gà hoặc thuốc lá điếu, bình đựng thuốc lá; đồ trang trí- - - Cigar or cigarette cases, tobacco jars; ornamental articleskg/chiếc2537.58/10
96019012- - - Nhân nuôi cấy ngọc trai (SEN)- - - Pearl nucleuskg/chiếc2537.58/10
96019019- - - Loại khác- - - Otherkg/chiếc2537.58/10
- - Vỏ điệp giấy đã gia công và các sản phẩm làm từ chúng:
96019021- - - Đồ trang trí- - - Ornamental articleskg/chiếc2537.58/10
96019029- - - Loại khác- - - Otherkg/chiếc2537.58/10
- - Loại khác:
96019091- - - Hộp đựng xì gà hoặc thuốc lá điếu, bình đựng thuốc lá; đồ trang trí- - - Cigar or cigarette cases, tobacco jars; ornamental articleskg/chiếc2537.58/10
96019099- - - Loại khác- - - Otherkg/chiếc2537.58/10

Chú giải nhóm 9601

96.01- Ngà, xương, đồi mồi, sừng, nhánh gạc, san hô, xà cừ và các vật liệu chạm khắc có nguồn gốc động vật khác đã gia công, và các mặt hàng làm từ các vật liệu này (kể cả các sản phẩm đúc).

9601.10 - Ngà đã gia công và các vật phẩm bằng ngà

9601.90 - Loại khác

Nhóm này liên quan đến các chất liệu có nguồn gốc động vật (trừ chất liệu nêu trong nhóm 96.02) đã gia công chủ yếu bằng chạm trổ hoặc cắt gọt. Phần lớn trong số này cũng có thể được tạo hình. Theo mục đích của nhóm này, khái niệm "đã gia công" dùng để chỉ các vật liệu đã được xử lý trên mức sơ chế so với nguyên vật liệu thô của nhóm liên quan (xem Chú giải chi tiết nhóm 05.05 đến 05.08). Bởi vậy, nhóm này bao gồm các mảnh ngà voi, xương, mai rùa, sừng, gạc, san hô, xà cừ... dưới dạng tấm, phiến, que,… đã cắt gọt thành hình (kể cả hình vuông hoặc chữ nhật), hoặc đánh bóng hoặc gia công bằng cách mài, khoan, phay, tiện... Tuy nhiên, các mảnh có thể xác định là các bộ phận của vật phẩm thuộc một nhóm khác của Danh mục thì bị loại khỏi nhóm này. Vì vậy, các phím đàn pianô và các mảnh gắn vào báng súng được xếp lần lượt vào nhóm 92.09 93.05. Tuy nhiên, các chất liệu đã gia công nhưng không thể xác định là các bộ phận của vật phẩm thì vẫn xếp vào nhóm này (ví dụ các đĩa, tấm, dải hoặc các sợi đơn giản dùng để khảm,…, hoặc dùng để sản xuất các phím pianô). Đặc biệt người ta xếp ở nhóm này, miễn là khi chúng đã được gia công chế tác hoặc dưới dạng vật phẩm:

(I) Ngà. Trong suốt Danh mục, ngà voi, răng của con hà mã, hải cẩu, kỳ lân biển, lợn lòi, sừng của tê giác và răng của mọi loài động vật đều được xem là ngà (xem Chú giải 3 của Chương 5). (tiếng anh thiếu mất con moóc, cần tìm hiểu)

(II) Xương, là phần đặc, cứng của cơ thể của nhiều động vật và hầu như được gia công bằng cách cắt gọt.

(III) Đồi mồi hầu như chỉ lấy từ rùa biển. Mai rùa có màu vàng, màu nâu hoặc màu đen, khi được xử lý nhiệt, nó rất dẻo và dễ uốn, khi nguội nó giữ lại hình dạng đã định.

(IV) Sừng, gạc lấy từ trán của động vật nhai lại. Lõi sừng không dùng làm vật liệu cho chạm hoặc khắc mà chủ yếu chỉ dùng để nấu cao (gelatin).

(V) San hô tự nhiên (xương can xi hoá của loài pô líp biển) và san hô tái tạo.

(VI) Xà cừ, lớp vỏ của một số loại trai có màu trắng đục, bóng láng, óng ánh nhiều màu sắc; mặc dù bề mặt của nó có vẻ như hình gợn sóng, nhưng thực tế nó hoàn toàn nhẵn.

(VII) Guốc, móng, vuốt và mỏ.

(VIII) Xương và các chất liệu tương tự lấy từ động vật biển có vú.

(IX) Ống lông vũ.

(X) Vỏ, mai của động vật giáp sát và động vật không xương sống. Nhóm này bao gồm :

(A) Các vật liệu có nguồn gốc động vật dùng để chạm trổ đã được gia công Các vật liệu chạm trổ nêu trong nhóm này được xếp ở đây miễn là chúng đã được gia công ở mức cao hơn là làm sạch hoặc cạo sạch, cắt gọt đơn giản để loại bỏ các phần không dùng được, xẻ (đôi khi tiếp theo là bào thô) và trong một số trường hợp, tẩy trắng, mài nhẵn, gọt rũa hoặc chẻ nhỏ. Như vậy, đồi mồi bị loại khỏi nhóm nếu nó chưa trải qua các chế tác vượt quá mức nắn thẳng và làm phẳng bề mặt (thao tác cuối cùng này ngoại lệ vì mai rùa chưa gia công hầu như dưới dạng miếng có độ dày không đều và bề mặt cong) (xem Chú giải chi tiết của nhóm 05.07, Phần (B)). Tương tự, nhóm này cũng loại trừ san hô chỉ bị loại bỏ lớp vỏ phía ngoài (nhóm 05.08). Nhóm này cũng bao gồm các vật phẩm được tạo hình dưới bất kỳ hình dạng nào được làm từ mai rùa, vẩy hoặc móng, hoặc từ các chất liệu tái tạo lấy từ bột hoặc phế liệu của bất kỳ vật liệu chạm khảm của nhóm này. Một trong những thuộc tính của mai rùa là tự nó có thể dính lại với nhau dưới ảnh hưởng của sức nóng mà không cần đến chất kết dính nào. Người ta lợi dụng thuộc tính này để tạo ra các miếng tương đối dầy bằng cách chồng các lớp mỏng lên nhau. Sừng có đặc tính là khi làm nóng nó trở nên mềm ra và sau đó có thể làm phẳng hoặc biến thành bột nhão. Bởi vậy nó có thể gia công bằng cách ép khuôn như mai rùa. Các đĩa đã hoặc chưa được đánh bóng không có đặc điểm của khuy chưa hoàn chỉnh (về mặt hàng này xem Chú giải chi tiết của nhóm 96.06) và ngọc trai Jerusalem (bao gồm các viên ngọc trai không đều, mới chỉ đục lỗ nhưng chưa đánh bóng, chưa phân loại hoặc chưa gia công thêm) vẫn được xếp vào trong nhóm này ngay khi chúng mới tạm xâu thành dây.

(B) Các vật phẩm làm bằng nguyên vật liệu chạm khắc có nguồn gốc động vật thuộc nhóm này: Nhóm này bao gồm:

(1) Hộp đựng thuốc lá hoặc xì gà, hộp đựng thuốc lá hít, hộp phấn, khoá vòng, cặp gài, hộp đựng son môi.

(2) Tay cầm và thân (giá) bàn chải, để riêng rẽ.

(3) Các loại hộp khác nhau, hộp đựng kẹo cachou, hộp bảo vệ đồng hồ.

(4) Cán (tay cầm) của các dụng cụ, dao, nĩa, dao cạo râu,…, thuộc Chương 82, được trình bày riêng

(5) Dao rọc giấy, mở thư, cái đánh dấu sách.

(6) Khung ảnh, khung tranh, v.v.

(7) Bọc sách.

(8) Các vật phẩm dùng cho tôn giáo.

(9) Kim móc, kim đan.

(10) Các vật trang sức nhỏ, chẳng hạn đồ nữ trang rẻ tiền, các mặt hàng điêu khắc trừ những mặt hàng của nhóm 97.03.

(11) Xỏ giầy.

(12) Các vật phẩm phục vụ bàn ăn như giá để dao, vòng để thìa nhỏ và khăn ăn.

(13) Sừng và gạc treo để trang trí (vật kỷ niệm thành tích, v.v.).

(14) Đá màu chạm nổi và đá màu chạm chìm, trừ loại dùng làm đồ trang sức. Nhóm này cũng bao gồm các vật phẩm làm từ các loại vỏ đặc biệt và các vật phẩm (chẳng hạn như tăm xỉa răng, đầu ngậm xì gà) làm bằng lông ống. Tuy nhiên, nhóm này loại trừ lông ống mới cắt thành đoạn và chưa gia công thêm (nhóm 05.05), và lông ống đã xử lý để làm phao câu (nhóm 95.07). Các vật phẩm được khảm nổi hoặc khảm chìm bằng các nguyên liệu chạm khảm có nguồn gốc động vật được xếp vào nhóm này nếu yếu tố khảm tạo nên đặc tính chính của thành phẩm. Đó là trường hợp các hộp, hòm bằng gỗ,... được khảm ngà voi, xương, mai rùa hoặc sừng. Nhóm này cũng không bao gồm:

(a) Các vật phẩm của Chương 66, (ví dụ như các bộ phận của ô, dù, can (gậy chống),..., tay cầm, thân và đầu).

(b) Gương thuỷ tinh có khung (nhóm 70.09)

(c) Các vật phẩm làm bằng vật liệu chạm khắc có nguồn gốc từ động vật, bao gồm một phần là kim loại quý, kim loại mạ kim loại quý, hoặc bao gồm các hạt trai tự nhiên hoặc nuôi cấy, hoặc bằng đá quý, hoặc bán quý (tự nhiên, tổng hợp hay tái tạo) (Chương 71). Tuy nhiên các vật phẩm loại này vẫn được xếp trong nhóm này khi các hạt trai tự nhiên hoặc nuôi cấy, đá quý hoặc đá bán quý (tự nhiên, tổng hợp hay tái tạo), các kim loại quý, hoặc kim loại mạ kim loại quý chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ (ví dụ kí tự đầu, dấu hiệu viết tắt, vành, rìa...)

(d) Các vật phẩm là đồ trang sức giả quý (nhóm 71.17).

(e) Bộ dao/muỗng/nĩa và những vật phẩm khác của Chương 82 có cán, tay cầm, quai, móc hoặc các bộ phận khác bằng vật liệu chạm khắc hoặc tạo hình.Tuy nhiên, khi để riêng thì cán, tay cầm, quai, móc, hoặc các bộ phận trên được xếp vào nhóm này.

(f) Các vật phẩm của Chương 90 (ví dụ ống nhòm, gọng kính mắt và các bộ phận của gọng kính mắt, kính cặp mũi không gọng, kính cầm tay, kính bảo hộ và các vật phẩm tương tự).

(g) Các vật phẩm của Chương 91 (ví dụ vỏ đồng hồ). Tuy nhiên, nắp bảo vệ cho đồng hồ đeo tay vẫn được xếp vào nhóm này.

(h) Các vật phẩm của Chương 92, ví dụ các nhạc cụ và các bộ phận của chúng (kèn tù và, phím pianô hoặc ácoocđiông, chốt của đàn, cầu đàn).

(ij) Các vật phẩm của Chương 93, (ví dụ, các bộ phận vũ khí).

(k) Các vật phẩm của Chương 94 (ví dụ, đồ nội thất, đèn (luminaires) và bộ đèn).

(l) Các vật phẩm của Chương 95 (đồ chơi, trò chơi, dụng cụ thể thao).

(m) Các vật phẩm của nhóm 96.03 (ví dụ, chổi và bàn chải) và của nhóm 96.04. Tuy nhiên các cán hoặc bàn cắm lông bàn chải nếu để riêng thì vẫn được xếp vào nhóm này.

(n) Các vật phẩm của nhóm 96.05, 96.06, 96.08, 96.11 hoặc 96.13 đến 96.16, (ví dụ khuy và khuy chưa thành phẩm; bút mực, quản bút,...; tẩu hút thuốc, bát và ống điếu và các bộ phận của điếu; xì gà và ống hút thuốc và các bộ phận của chúng, lược).

(o) Các vật phẩm của Chương 97 (ví dụ các nguyên bản điêu khắc hoặc tượng tạc, các mẫu vật sưu tập về động thực vật).

Câu hỏi thường gặp về mã HS 9601

Mã HS của Ngà, xương, đồi mồi, sừng, nhánh gạc, san hô, xà cừ và các vật liệu chạm khắc có nguồn gốc động vật khác đã gia công, và các mặt hàng làm từ các vật liệu này (kể cả các sản phẩm đúc) là gì?

Ngà, xương, đồi mồi, sừng, nhánh gạc, san hô, xà cừ và các vật liệu chạm khắc có nguồn gốc động vật khác đã gia công, và các mặt hàng làm từ các vật liệu này (kể cả các sản phẩm đúc) thuộc nhóm HS 9601, gồm 9 mã HS 8 chữ số (ví dụ: 96011010, 96011090, 96019011, 96019012, 96019019…). Xem bảng đầy đủ mã và thuế suất phía trên.

Thuế nhập khẩu Ngà, xương, đồi mồi, sừng, nhánh gạc, san hô, xà cừ và các vật liệu chạm khắc có nguồn gốc động vật khác đã gia công, và các mặt hàng làm từ các vật liệu này (kể cả các sản phẩm đúc) là bao nhiêu?

Thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi (MFN) của Ngà, xương, đồi mồi, sừng, nhánh gạc, san hô, xà cừ và các vật liệu chạm khắc có nguồn gốc động vật khác đã gia công, và các mặt hàng làm từ các vật liệu này (kể cả các sản phẩm đúc) là 25%. Thuế suất thông thường và ưu đãi đặc biệt theo hiệp định FTA có thể khác — xem chi tiết từng mã trong bảng.

Thuế GTGT (VAT) của Ngà, xương, đồi mồi, sừng, nhánh gạc, san hô, xà cừ và các vật liệu chạm khắc có nguồn gốc động vật khác đã gia công, và các mặt hàng làm từ các vật liệu này (kể cả các sản phẩm đúc) là bao nhiêu?

Thuế giá trị gia tăng (VAT/GTGT) áp dụng phổ biến là 8% hoặc 10%.

Ngà, xương, đồi mồi, sừng, nhánh gạc, san hô, xà cừ và các vật liệu chạm khắc có nguồn gốc động vật khác đã gia công, và các mặt hàng làm từ các vật liệu này (kể cả các sản phẩm đúc) có được ưu đãi thuế theo hiệp định FTA nào không?

Nhiều mã HS thuộc nhóm 9601 được hưởng thuế suất nhập khẩu ưu đãi đặc biệt theo các hiệp định thương mại tự do Việt Nam tham gia (ATIGA, ACFTA, CPTPP, EVFTA, RCEP…) khi có chứng nhận xuất xứ (C/O) phù hợp. Mức ưu đãi cụ thể tra theo từng mã HS.

Nhóm hàng liên quan (Chương 96)

Nguồn: Biểu thuế xuất nhập khẩu 2026 và các thông tư thuế GTGT hiện hành. Số liệu mang tính tham khảo, vui lòng đối chiếu văn bản gốc khi khai báo.

Dữ liệu tổng hợp bởi Weimex – công ty giao nhận vận tải (freight forwarder) tại Hà Nội. Công cụ tra cứu biểu thuế · Trang chủ