Mã HS nhóm 5101 – Lông cừu, chưa chải thô hoặc chải kỹ

Áp dụng theo Biểu thuế XNK 2026 (hiệu lực từ 01/01/2026)

Lông cừu, chưa chải thô hoặc chải kỹ (nhóm HS 5101) gồm 5 mã HS 8 chữ số. Thuế suất nhập khẩu ưu đãi 0%. Thuế GTGT (VAT) 5% hoặc 8% hoặc 10%. Bảng dưới đây liệt kê đầy đủ mã HS 8 chữ số kèm mô tả, đơn vị tính, thuế suất nhập khẩu ưu đãi, thuế nhập khẩu thông thường và thuế GTGT.

Mã HSMô tả (VN)Mô tả (EN)ĐVTNK ưu đãiNK thông thườngVAT
5101Lông cừu, chưa chải thô hoặc chải kỹ
- Nhờn, kể cả lông cừu đã rửa sạch:
51011100- - Lông cừu đã xén- - Shorn woolkg05*/5/8/10
51011900- - Loại khác- - Otherkg05*/5/8/10
- Đã tẩy nhờn, chưa được carbon hóa:
51012100- - Lông cừu đã xén- - Shorn woolkg05*/5/8/10
51012900- - Loại khác- - Otherkg05*/5/8/10
51013000- Đã được carbon hóa- Carbonisedkg05*/5/8/10

Chú giải nhóm 5101

51.01 - Lông cừu, chưa chải thô hoặc chải kỹ.

- Nhờn, kể cả lông cừu đã rửa sạch:

5101.11 - - Lông cừu đã xén

5101.19 - - Loại khác

- Đã tẩy nhờn, chưa được carbon hóa:

5101.21 - - Lông cừu đã xén

5101.29 - - Loại khác

5101.30 - Đã được các bon hoá

Trong toàn bộ Danh mục, “lông cừu” là lông xơ tự nhiên mọc từ con cừu trưởng thành hoặc con cừu non. Sợi lông cừu về cốt yếu gồm chất sừng protein và có đặc điểm riêng là có vẩy trên bề mặt. Sợi lông cừu có độ đàn hồi, có khả năng hút ẩm lớn (hấp thụ hơi ẩm từ không khí) và thông thường nó có những tính chất giống như nỉ. Lông cừu hầu như là không dễ cháy nhưng khi đốt cháy thành than, nó có mùi như mùi chất sừng cháy. Nhóm này bao gồm lông cừu trưởng thành hay lông cừu non chưa chải thô hoặc chải kỹ, thu được từ việc xén lông ở trên con vật sống hay từ da động vật chết hay xén từ những tấm da có lông hay nhổ khỏi tấm da sau khi đã lên men hay cho xử lý hoá chất phù hợp (ví dụ: lông cừu đã được nhổ, lông cừu xén hay da cừu còn lông). Lông cừu chưa chải thô và chưa chải kỹ thường ở dạng:

(A) Nhờn, kể cả lông cừu đã rửa sạch. Lông cừu còn dính nhờn là lông cừu chưa được rửa hoặc làm sạch bằng cách khác; do vậy, nó vẫn còn dính chất nhờn và chất béo ngấm từ bản thân con vật và có thể còn dính cả một số lượng những chất bẩn khác (tạp chất thực vật, các hạt, đất,...). Lông cừu xén dính mỡ thường ở dạng “mỡ lông cừu” có nhiều hay ít những viền của da. Lông cừu được nhổ khỏi những tấm da cừu bởi quá trình lên men (“hấp hơi”), trong đó các sợi lông và da chịu một tác động kép về nhiệt và độ ẩm khi ủ. Lông cũng có thể lấy ra bằng phương pháp làm rụng lông trong đó người ta cho bề mặt có thịt của da được xử lý với Natri sulphide hay dung dịch nước vôi. Lông cừu như vậy có thể nhận ra do vẫn còn chân lông. Lông cừu đã rửa sạch là lông cừu đã rửa bằng nước lạnh khi vẫn còn trên con vật hay trước khi nhổ khỏi tấm da. Nó vẫn chưa sạch hoàn toàn. Lông cừu còn dính nhờn thường có màu vàng nhạt. Đôi khi có màu xám, đen, nâu hay nâu đỏ.

(B) Lông cừu đã tẩy nhờn, chưa được carbon hoá. Loại này bao gồm:

(1) Lông cừu đã rửa bằng nước nóng, loại lông này chỉ được rửa bằng nước nóng và được loại bỏ phần lớn các chất nhờn và đất.

(2) Lông cừu đã tẩy: Là lông mà lượng chất nhờn bám vào đã được tẩy hoàn toàn trong quá trình rửa bằng nước nóng hoặc xà phòng hay bằng các dung dịch tẩy rửa khác hoặc dung dịch kiềm.

(3) Lông đã được xử lý với các dung môi dễ bay hơi (như là benzen và carbon tetrachloride) để tẩy nhờn.

(4) Lông đóng băng: Lông cừu được đưa vặo nơi có nhiệt độ đủ thấp để mỡ đóng băng. Lớp nhờn này sau đó ở trạng thái dễ vỡ và có thể rũ ra khỏi lông cừu cùng với phần lớn những tạp chất tự nhiên khác bám vào lông cừu bởi lớp mỡ. Những bộ lông cừu đã được khử nhờn và rửa sạch vẫn còn chứa một lượng nhỏ mỡ và chất có nguồn gốc thực vật (tạp chất thực vật, các hạt, v.v...); những chất có nguồn gốc thực vật này sẽ được loại bỏ cơ học ở giai đoạn sau (xem Chú giải nhóm 51.05) hay bởi phương pháp carbon hóa.

(C) Lông cừu đã được carbon hoá: Quá trình carbon hoá sẽ loại bỏ những chất (có nguồn gốc thực vật) vẫn còn bám ở lông cừu như đã đề cập ở phần (B) trên. Lông cừu thường được ngâm vào chậu có chứa các axit vô cơ hay muối axit, nó sẽ phân hủy các chất có nguồn gốc thực vật mà không làm ảnh hưởng tới các sợi lông. Tẩy trắng, nhuộm màu hay các quá trình khác trước khi chải sạch hay chải sóng không ảnh hưởng tới quá trình phân loại lông cừu trong nhóm này. Nhóm này không bao gồm:

(a) Da sống đã hay chưa bị tách bao gồm cả những tấm da cừu vẫn còn lông (nhóm 41.02 hay 43.01).

(b) Phế liệu lông cừu của nhóm 51.03 hay lông cừu tái chế nhóm 51.04.

(c) Lông cừu chải kỹ dạng từng đoạn (nhóm 51.05).

Câu hỏi thường gặp về mã HS 5101

Mã HS của Lông cừu, chưa chải thô hoặc chải kỹ là gì?

Lông cừu, chưa chải thô hoặc chải kỹ thuộc nhóm HS 5101, gồm 5 mã HS 8 chữ số (ví dụ: 51011100, 51011900, 51012100, 51012900, 51013000…). Xem bảng đầy đủ mã và thuế suất phía trên.

Thuế nhập khẩu Lông cừu, chưa chải thô hoặc chải kỹ là bao nhiêu?

Thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi (MFN) của Lông cừu, chưa chải thô hoặc chải kỹ là 0%. Thuế suất thông thường và ưu đãi đặc biệt theo hiệp định FTA có thể khác — xem chi tiết từng mã trong bảng.

Thuế GTGT (VAT) của Lông cừu, chưa chải thô hoặc chải kỹ là bao nhiêu?

Thuế giá trị gia tăng (VAT/GTGT) áp dụng phổ biến là 5% hoặc 8% hoặc 10%.

Lông cừu, chưa chải thô hoặc chải kỹ có được ưu đãi thuế theo hiệp định FTA nào không?

Nhiều mã HS thuộc nhóm 5101 được hưởng thuế suất nhập khẩu ưu đãi đặc biệt theo các hiệp định thương mại tự do Việt Nam tham gia (ATIGA, ACFTA, CPTPP, EVFTA, RCEP…) khi có chứng nhận xuất xứ (C/O) phù hợp. Mức ưu đãi cụ thể tra theo từng mã HS.

Nhóm hàng liên quan (Chương 51)

Nguồn: Biểu thuế xuất nhập khẩu 2026 và các thông tư thuế GTGT hiện hành. Số liệu mang tính tham khảo, vui lòng đối chiếu văn bản gốc khi khai báo.

Dữ liệu tổng hợp bởi Weimex – công ty giao nhận vận tải (freight forwarder) tại Hà Nội. Công cụ tra cứu biểu thuế · Trang chủ