Mã HS nhóm 3214 – Ma tít để gắn kính, để ghép nối, các chất gắn nhựa (resin cements), các hợp chất dùng để trát, gắn và các loại ma tít khác; các chất bả bề mặt trước khi sơn; các vật liệu phủ bề mặt không chịu nhiệt, dùng để phủ bề mặt chính nhà, tường trong nhà, sàn, trần nhà hoặc tương tự

Áp dụng theo Biểu thuế XNK 2026 (hiệu lực từ 01/01/2026)

Ma tít để gắn kính, để ghép nối, các chất gắn nhựa (resin cements), các hợp chất dùng để trát, gắn và các loại ma tít khác; các chất bả bề mặt trước khi sơn; các vật liệu phủ bề mặt không chịu nhiệt, dùng để phủ bề mặt chính nhà, tường trong nhà, sàn, trần nhà hoặc tương tự (nhóm HS 3214) gồm 2 mã HS 8 chữ số. Thuế suất nhập khẩu ưu đãi 5%. Thuế GTGT (VAT) 8% hoặc 10%. Bảng dưới đây liệt kê đầy đủ mã HS 8 chữ số kèm mô tả, đơn vị tính, thuế suất nhập khẩu ưu đãi, thuế nhập khẩu thông thường và thuế GTGT.

Mã HSMô tả (VN)Mô tả (EN)ĐVTNK ưu đãiNK thông thườngVAT
3214Ma tít để gắn kính, để ghép nối, các chất gắn nhựa (resin cements), các hợp chất dùng để trát, gắn và các loại ma tít khác; các chất bả bề mặt trước khi sơn; các vật liệu phủ bề mặt không chịu nhiệt, dùng để phủ bề mặt chính nhà, tường trong nhà, sàn, trần nhà hoặc tương tự
32141000- Ma tít để gắn kính, ma tít để ghép nối, các chất gắn nhựa (resin cements), các hợp chất dùng để trát, gắn và các loại ma tít khác; chất bả bề mặt trước khi sơn- Glaziers' putty, grafting putty, resin cements, caulking compounds and other mastics; painters' fillingskg57.58/10
32149000- Loại khác- Otherkg57.58/10

Chú giải nhóm 3214

32.14 - Ma tít để gắn kính, để ghép nối, các chất gắn nhựa (resin cements), các hợp chất dùng để trát, gắn và các loại ma tít khác; các chất bả bề mặt trước khi sơn; các vật liệu phủ bề mặt không chịu nhiệt, dùng để phủ bề mặt chính nhà, tường trong nhà, sàn, trần nhà hoặc tương tự.

3214.10 - Ma tít để gắn kính, ma tít để ghép nối, các chất gắn nhựa (resin cements), các hợp chất dùng để trát, gắn và các loại ma tít khác; chất bả bề mặt trước khi sơn

3214.90 - Loại khác

Các sản phẩm của nhóm này là các chế phẩm có thành phần đa dạng mà các thành phần này được đặc trưng cơ bản thông qua công dụng của chúng. Các chế phẩm này thường ở dạng nhão và chúng thường đóng rắn sau khi sử dụng. Tuy nhiên, một số loại ở dạng rắn hoặc dạng bột mà được làm thành dạng nhão tại thời điểm sử dụng dưới tác dụng của nhiệt (ví dụ, làm nóng chảy) hoặc bằng cách thêm một chất lỏng (ví dụ, nước). Các sản phẩm của nhóm này thường được thi công bằng súng phun, dao phết, bay, bàn xoa hoặc một dụng cụ tương tự.

(I) MATÍT ĐỂ GẮN KÍNH, ĐỂ GHÉP NỐI, CÁC CHẤT GẮN NHỰA, CÁC HỢP CHẤT DÙNG ĐỂ TRÁT, GẮN VÀ CÁC LOẠI MATÍT KHÁC Các chế phẩm này thường dùng để làm kín hoặc trát các vết nứt và, trong một vài trường hợp, để bảo đảm sự kết dính giữa các mảnh. Chúng phân biệt với keo dán và các chất dính khác bằng cách được sử dụng trong các lớp phủ dày hoặc lớp dày. Tuy nhiên cũng cần nhớ rằng nhóm các sản phẩm này cũng gồm các matít được sử dụng trên da của bệnh nhân, xung quanh vùng viêm dạ dày và chỗ rò. Nhóm này gồm:

(1) Matít từ dầu. Chúng chủ yếu gồm dầu khô, chất độn (dù chúng tương tác với dầu hay là chất trơ) và các chất làm cứng. Sản phẩm được biết đến nhiều nhất của loại này là chất gắn kết cho kính.

(2) Matít từ sáp (sáp lutting). Chúng chứa sáp (tất cả các loại sáp) thường được trộn thêm nhựa, shellac, cao su, nhựa este,.... nhằm làm tăng độ kết dính. Các loại matít trong đó sáp được thay thế hoàn toàn hay một phần bởi các sản phẩm như cồn cetyl hay cồn stearyl cũng được coi như là matít từ sáp. Các loại matit của đoạn này bao gồm chất gắn kết để ghép nối và chất làm kín để trám trét các thùng,...

(3) Matit nhựa và các chất trét nhựa xi măng. Chúng bao gồm các loại nhựa tự nhiên (shellac, damar, colophan) hoặc plastics (nhựa alkyd, polyeste, nhựa coumaron- indene,...), được trộn lẫn với nhau và thường được thêm các chất liệu khác (ví dụ, sáp, dầu, bitum, cao su, bột gạch, vôi, xi măng hoặc các chất độn khoáng khác). Cần chú ý rằng một số loại matit này cũng bao gồm các loại được mô tả dưới đây (ví dụ, các loại từ nhựa hoặc cao su). Các loại matít và chất gắn nhựa xi măng của nhóm này được sử dụng cho nhiều mục đích, như chất độn trong công nghiệp kỹ thuật điện hoặc cho gắn kính, kim loại hoặc đồ sứ. Chúng thường được dùng sau khi được nấu chảy bằng các nung nóng.

(4) Matít từ thủy tinh lỏng. Chúng thường được điều chế tại thời điểm sử dụng bằng cách trộn lẫn hai thành phần. Một thành phần chứa dung dịch nước của natri silicat và kali-natri silicat và thành phần còn lại là chất độn (bột thạch anh, cát, sợi amiang,...). Chúng thường được sử dụng để gắn các bugi đánh lửa, để gắn kín các khối hay carte của động cơ, ống khói, bộ tản nhiệt,...., và để làm kín hoặc bịt lại các khớp nối.

(5) Matít từ oxy clorua kẽm. Chúng thu được từ oxit kẽm và clorua kẽm, thường được trộn thêm các chất hãm và, trong một số trường hợp, được thêm các chất độn. Chúng được sử dụng để làm kín các lỗ hoặc các vết nứt của gỗ, gốm sứ,....

(6) Matít từ oxyclorua magiê. Chúng thu được từ clorua magiê và oxit magiê và được trộn thêm các chất độn (ví dụ, bột gỗ). Chúng chủ yếu được dùng để bịt lại các vết nứt trên các đồ vật gỗ.

(7) Matít từ lưu huỳnh. Chúng gồm lưu huỳnh được trộn với các chất độn trơ. Loại này thường ở dạng rắn, và được sử dụng để làm cứng, chống thấm, chống trám có tính chống ăn mòn axit, và cũng làm liên kết hoặc cố định các mảnh một chỗ.

(8) Matít từ vữa (plaster). Chúng ở dạng bột sợi và bột vón, được tạo bởi hỗn hợp với tỷ lệ khoảng 50 % vữa và các chất khác như sợi amiang, cellulose gỗ, sợi thuỷ tinh hoặc cát. Chúng được làm thành dạng nhão bằng cách cho thêm nước, và được sử dụng để bắt vít, chốt, hay móc,...

(9) Matít từ plastics (ví dụ, polyeste, polyurethan, silicon và nhựa epoxy) có hoặc không chứa một tỷ lệ cao (đến 80%) các chất độn khác nhau được thêm vào (ví dụ, đất sét, cát và các silicat khác, titan dioxit, bột kim loại). Một số loại của các matít này được sử dụng sau khi bổ sung thêm chất làm cứng. Một số mattit khác không đóng rắn và vẫn dính sau khi sử dụng (ví dụ, chất bịt kín cách âm). Một số khác đóng rắn do sự bay hơi dung môi, sự đông đặc (matit nóng chảy bởi nhiệt), bằng cách xử lý sau khi để ngoài không khí hoặc bằng phản ứng của các thành phần trộn với nhau (matit nhiều thành phần). Các sản phẩm có bản chất này thì được phân loại trong nhóm này chỉ khi chúng được sử dụng hoàn toàn như matit. Matit có thể sử dụng để gắn một số khớp nối trong xây dựng hoặc sửa chữa nhà, để gắn hoặc sửa chữa các đồ bằng thủy tinh, gốm sứ hoặc kim loại, như chất độn và chất làm dùng làm kín thùng xe hoặc, trong một số trường hợp làm chất kết dính để liên kết các bề mặt khác nhau cùng với nhau.

(10) Matít từ oxit kẽm và glycerol. Chúng được sử dụng làm các chất trám trét chịu axit, để gắn các mảnh sắt vào đồ gốm sứ và để nối các ống.

(11) Matít từ cao su. Những chất này có thể gồm một chất làm đặc cao su thêm các chất độn (graphit, silicat, carbonat,...) và trong một vài trường hợp thì thêm một dung môi hữu cơ. Sau khi trộn thêm một chất đóng rắn, đôi khi chúng được sử dụng để tạo các lớp trám bảo vệ mền dẻo (bền với các tác nhân hoá học và dung môi), và cũng dùng để trát. Các loại matit này cũng có thể bao gồm cao su phân tán trong môi trường nước, có chứa thêm chất màu, chất hóa dẻo, chất độn, chất kết dính hoặc chất chống oxi hóa, được sử dụng để gắn kín các lon kim loại.

(12) Các loại matít dùng cho da. Loại này có thể được tạo bởi, ví dụ carboxymethylcellulose natri, pectin, gelatin, và polyisobutylen trong một dung môi hữu cơ như cồn isopropyl. Chúng được sử dụng trên da người bệnh xung quanh chỗ viêm dạ dày và chỗ rò như là chất làm kín để chống rò giữa da và túi đựng chất thải. Chúng không có tác dụng phòng bệnh hay chữa bệnh.

(13) Các loại sáp gắn. Chúng chủ yếu gồm một hỗn hợp các vật liệu nhựa (ví dụ shellac, rosin), cùng với tỷ lệ (thường là cao) các chất độn khoáng và các chất màu. Chúng được sử dụng làm kín lỗ, để gắn các dụng cụ, để gắn các tài liệu...

(II) CÁC CHẤT BẢ BỀ MẶT TRƯỚC KHI SƠN; CÁC CHẾ PHẨM PHỦ BỀ MẶT KHÔNG CHỊU NHIỆT DÙNG ĐỂ PHỦ BỀ MẶT CHÍNH NHÀ, TƯỜNG TRONG NHÀ, SÀN, TRẦN NHÀ HOẶC TƯƠNG TỰ Các sản phẩm này được phân biệt với matít ở trên, nhìn chung chúng được dùng cho các bề mặt lớn hơn. Mặt khác, chúng khác với sơn, vecni và các sản phẩm tương tự do chúng chứa một lượng lớn chất độn và thuốc màu nếu có; lượng này thường cao hơn nhiều so với lượng chất kết dính và dung môi hoặc chất lỏng phân tán.

(A) CÁC CHẤT BẢ BỀ MẶT TRƯỚC KHI SƠN. Các chất trám trét của thợ sơn được dùng để xử lý các bề mặt (ví dụ, mặt tường bên trong nhà) trước khi sơn bằng cách làm phẳng các khiếm khuyết, và nếu cần thì trám trét các vết nứt, lỗ hoặc những chỗ gồ ghề trên bề mặt tường. Sơn được quét lên bề mặt sau khi đông cứng và được xả nhám. Nhóm này cũng bao gồm các chất trám trét từ dầu, cao su, keo,... Các chất trám trét từ plastics với thành phần tương tự như thành phần của một số loại matít cùng loại cũng được sử dụng để gắn thùng xe,....

(B) CÁC CHẤT BẢ BỀ MẶT KHÔNG CHỊU NHIỆT. Các chất bả bề mặt không chịu nhiệt được dùng cho các bề mặt ngoài, tường bên trong nhà, sàn và trần nhà, trên thành và dưới nền của bể bơi,...để chống thấm và làm cho bề mặt đẹp hơn. Nhìn chung chúng vẫn được nhìn thấy như là bề mặt cuối cùng. Nhóm này bao gồm:

(1) Các chế phẩm bột chứa tỷ lệ bằng nhau của vữa và cát với các chất hóa dẻo.

(2) Các chế phẩm dạng bột từ thạch anh và ximăng, với một lượng nhỏ chất hóa dẻo được thêm vào, được dùng để ốp tường hoặc lát nền sau khi thêm nước.

(3) Các chế phẩm dạng nhão tạo bởi cách phủ các chất độn khoáng (hạt đá cẩm thạch, thạch anh, hoặc hỗn hợp của thạch anh và silicat) với một chất kết dính (plastic hoặc resin), và được thêm thuốc mầu, và một lượng nước hoặc dung môi thích hợp.

(4) Các chế phẩm lỏng chứa các chất như: cao su tổng hợp hoặc polyme acrylic, sợi amiang được trộn với một thuốc màu, và nước. Loại này được dùng trên bề mặt tường ngoài nhà với cọ sơn hoặc súng phun và tạo nên một lớp dày hơn so với lớp sơn. * *** Trong trường hợp các sản phẩm được miêu tả ở trên, việc pha trộn các thành phần khác nhau, hoặc việc thêm một số thành phần, phải được thực hiện tại thời điểm sử dụng. Những sản phẩm như vậy vẫn được phân loại trong nhóm này với điều kiện các thành phần là:

(i) có sự liên quan đến cách chúng được sắp xếp, dễ dàng để nhận biết chúng như là được sử dụng cùng nhau mà không cần đóng gói lại;

(ii) được xuất hiện cùng với nhau;

(iii) Có thể nhận biết, bằng đặc tính chúng hoặc bằng tỷ lệ cân đối trong sản phẩm mà chúng hiện diện, coi như chất bổ trợ cho nhau. Tuy nhiên, trong trường hợp các sản phẩm mà được trộn thêm một chất đóng rắn tại thời điểm sử dụng, nếu như không có chất đóng rắn này thì các sản phẩm này vẫn thuộc nhóm này, với điều kiện thành phần của chúng hoặc cách đóng gói chúng được nhận biết một cách rõ ràng là để sử dụng trong điều chế chất gắn kết, matít, chất trám trét hoặc chế phẩm xử lý bề mặt. Nhóm này không bao gồm:

(a) Nhựa tự nhiên, ở một số nước còn được gọi là “matít” (nhóm 13.01).

(b) Vữa, vôi và xi măng trong các nhóm 25.20, 25.22 hoặc 25.23.

(c) Matit asphalt và các loại matít bitum khác (nhóm 27.15).

(d) Xi măng nha khoa và các chất hàn nha khoa khác (nhóm 30.06).

(e) Hắc ín cho quá trình ủ bia, và các sản phẩm khác thuộc nhóm 38.07.

(f) Ximăng và vữa chịu lửa (nhóm 38.16).

(g) Các chất kết dính đã điều chế dùng cho khuôn hay lõi khuôn đúc (nhóm 38.24).

Câu hỏi thường gặp về mã HS 3214

Mã HS của Ma tít để gắn kính, để ghép nối, các chất gắn nhựa (resin cements), các hợp chất dùng để trát, gắn và các loại ma tít khác; các chất bả bề mặt trước khi sơn; các vật liệu phủ bề mặt không chịu nhiệt, dùng để phủ bề mặt chính nhà, tường trong nhà, sàn, trần nhà hoặc tương tự là gì?

Ma tít để gắn kính, để ghép nối, các chất gắn nhựa (resin cements), các hợp chất dùng để trát, gắn và các loại ma tít khác; các chất bả bề mặt trước khi sơn; các vật liệu phủ bề mặt không chịu nhiệt, dùng để phủ bề mặt chính nhà, tường trong nhà, sàn, trần nhà hoặc tương tự thuộc nhóm HS 3214, gồm 2 mã HS 8 chữ số (ví dụ: 32141000, 32149000…). Xem bảng đầy đủ mã và thuế suất phía trên.

Thuế nhập khẩu Ma tít để gắn kính, để ghép nối, các chất gắn nhựa (resin cements), các hợp chất dùng để trát, gắn và các loại ma tít khác; các chất bả bề mặt trước khi sơn; các vật liệu phủ bề mặt không chịu nhiệt, dùng để phủ bề mặt chính nhà, tường trong nhà, sàn, trần nhà hoặc tương tự là bao nhiêu?

Thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi (MFN) của Ma tít để gắn kính, để ghép nối, các chất gắn nhựa (resin cements), các hợp chất dùng để trát, gắn và các loại ma tít khác; các chất bả bề mặt trước khi sơn; các vật liệu phủ bề mặt không chịu nhiệt, dùng để phủ bề mặt chính nhà, tường trong nhà, sàn, trần nhà hoặc tương tự là 5%. Thuế suất thông thường và ưu đãi đặc biệt theo hiệp định FTA có thể khác — xem chi tiết từng mã trong bảng.

Thuế GTGT (VAT) của Ma tít để gắn kính, để ghép nối, các chất gắn nhựa (resin cements), các hợp chất dùng để trát, gắn và các loại ma tít khác; các chất bả bề mặt trước khi sơn; các vật liệu phủ bề mặt không chịu nhiệt, dùng để phủ bề mặt chính nhà, tường trong nhà, sàn, trần nhà hoặc tương tự là bao nhiêu?

Thuế giá trị gia tăng (VAT/GTGT) áp dụng phổ biến là 8% hoặc 10%.

Ma tít để gắn kính, để ghép nối, các chất gắn nhựa (resin cements), các hợp chất dùng để trát, gắn và các loại ma tít khác; các chất bả bề mặt trước khi sơn; các vật liệu phủ bề mặt không chịu nhiệt, dùng để phủ bề mặt chính nhà, tường trong nhà, sàn, trần nhà hoặc tương tự có được ưu đãi thuế theo hiệp định FTA nào không?

Nhiều mã HS thuộc nhóm 3214 được hưởng thuế suất nhập khẩu ưu đãi đặc biệt theo các hiệp định thương mại tự do Việt Nam tham gia (ATIGA, ACFTA, CPTPP, EVFTA, RCEP…) khi có chứng nhận xuất xứ (C/O) phù hợp. Mức ưu đãi cụ thể tra theo từng mã HS.

Nhóm hàng liên quan (Chương 32)

Nguồn: Biểu thuế xuất nhập khẩu 2026 và các thông tư thuế GTGT hiện hành. Số liệu mang tính tham khảo, vui lòng đối chiếu văn bản gốc khi khai báo.

Dữ liệu tổng hợp bởi Weimex – công ty giao nhận vận tải (freight forwarder) tại Hà Nội. Công cụ tra cứu biểu thuế · Trang chủ