Mã HS nhóm 5810 – Hàng thêu dạng chiếc, dạng dải hoặc dạng theo mẫu hoa văn

Áp dụng theo Biểu thuế XNK 2026 (hiệu lực từ 01/01/2026)

Hàng thêu dạng chiếc, dạng dải hoặc dạng theo mẫu hoa văn (nhóm HS 5810) gồm 4 mã HS 8 chữ số. Thuế suất nhập khẩu ưu đãi 12%. Thuế GTGT (VAT) 8% hoặc 10%. Bảng dưới đây liệt kê đầy đủ mã HS 8 chữ số kèm mô tả, đơn vị tính, thuế suất nhập khẩu ưu đãi, thuế nhập khẩu thông thường và thuế GTGT.

Mã HSMô tả (VN)Mô tả (EN)ĐVTNK ưu đãiNK thông thườngVAT
5810Hàng thêu dạng chiếc, dạng dải hoặc dạng theo mẫu hoa văn
58101000- Hàng thêu không lộ nền- Embroidery without visible groundm/chiếc12188/10
- Hàng thêu khác:
58109100- - Từ bông- - Of cottonm/chiếc12188/10
58109200- - Từ xơ nhân tạo- - Of man-made fibresm/chiếc12188/10
58109900- - Từ các vật liệu dệt khác- - Of other textile materialsm/chiếc12188/10

Chú giải nhóm 5810

58.10 - Hàng thêu dạng chiếc, dạng dải hoặc dạng theo mẫu hoa văn (+).

5810.10- Hàng thêu không lộ nền

- Hàng thêu khác:

5810.91 - - Từ bông

5810.92 - - Từ xơ nhân tạo

5810.99 - - Từ vật liệu dệt khác

Hàng thêu được làm bằng các sợi thêu trên nền đã có sẵn làm từ vải tuyn, lưới, lớp nhung, ruy băng, vải móc hoặc đan, đăng ten hoặc vải dệt thoi, hoặc làm từ nỉ hoặc sợi không dệt, để tạo mẫu trang trí trên nền đó. Chỉ thêu thường là đồ dệt, nhưng nhóm này cũng bao gồm cả các loại vật liệu khác (ví dụ: kim loại, thủy tinh, hoặc sợi cọ). Vải nền thường tạo thành một phần của sản phẩm thêu hoàn thiện nhưng trong một số trường hợp nhất định nó được tách ra (ví dụ, bằng hóa học hoặc bằng việc cắt) sau khi được thêu và chỉ có mẫu thiết kế được giữ lại. Một số sản phẩm thêu nhất định không được làm bằng sợi thêu nhưng bằng các dải hoặc các loại băng viền. Chính vì vậy việc sản xuất bắt đầu từ một nền vải đã có sẵn khác với sản phẩm thêu từ hàng ren, và hàng ren không được nhầm lẫn với hàng thêu mà vải nền sẽ bị gỡ bỏ sau khi thêu xong. Sản phẩm thêu sẽ không bị lẫn với các loại vải dệt có các mẫu thiết kế được sản xuất bằng sợi trang trí trong suốt quá trình dệt (kiểu dệt lông chim và nổi hoa văn khác). Các đặc điểm để phân biệt sản phẩm thêu với các sản phẩm khác sẽ có trong phần Chú giải chi tiết này. Hàng thêu có thể làm thủ công bằng tay hoặc bằng máy. Hàng thêu thủ công bằng tay có kích thước nhỏ hơn, hàng thêu làm bằng máy thì thường có độ dài lớn hơn. Hàng thêu được phân loại vào nhóm này có 3 loại chính:

(I) HÀNG THÊU KHÔNG ĐỂ LỘ NỀN Đây là loại hàng thêu mà nền vải đã bị loại bỏ (ví dụ bằng một quá trình hóa học, bằng cắt bỏ). Vì thế vật liệu gồm có toàn bộ các mẫu thiết kế đã thêu. Vì nó không có nền, đồ thêu làm bằng máy thuộc loại này có thể bị nhầm lẫn với hàng ren thuộc nhóm 58.04, tuy nhiên nó có thể được phân biệt bằng cách căn cứ vào các điểm sau:

(A) Trong khi hàng ren được làm bằng một sợi chỉ đơn liên tục hoặc bằng cách lồng 2 hoặc nhiều sợi chỉ nối liền với chức năng giống nhau, và thường thì hàng ren có hai mặt giống nhau, còn hàng thêu máy thuộc loại này gồm có 2 sợi chỉ với các chức năng khác nhau; một là sợi thêu, hai là sợi con thoi nằm dưới tấm vải, loại thứ hai thường mịn hơn loại sợi thứ nhất. Vì thế mặt phải và mặt trái của đồ thêu hoàn toàn khác nhau, mặt phải biểu hiện hình nổi, mặt trái thì hình dẹt.

(B) Các đường viền của hàng thêu cắt thường lộ ra các đầu mút nhỏ của sợi vải nền chưa được loại bỏ hoàn toàn.

(II) HÀNG THÊU CÓ NỀN ĐƯỢC GIỮ LẠI SAU KHI THÊU Đây là loại sản phẩm thêu mà trong đó sợi thêu thường không bao phủ toàn bộ tấm vải nền, nhưng sợi thêu lộ ra để tạo thành các mẫu trên bề mặt hoặc xung quanh các đường biên của tấm vải nền. Các mũi thêu được sử dụng rất phong phú và bao gồm mũi thêu chạy, mũi khâu chuyền, mũi khâu sau hoặc mũi khâu thắt, mũi khâu chữ chi, mũi khâu hạt, mũi khâu vòng, mũi khâu lỗ. Về nguyên tắc toàn bộ mẫu thiết kế chỉ có thể được thấy trên bề mặt phải của vải. Nhiều sản phẩm thêu khác nhau có các lỗ nhỏ hoặc khoảng trống tạo ra bởi việc cắt, khoan lỗ trên tấm vải nền với một con dao nhỏ hoặc bằng cách rút đi các sợi dọc hay ngang (hoặc cả hai) từ tấm vải nền và sau đó được làm hoàn thiện hoặc làm đẹp các tấm vải bằng các mũi thêu. Điều này làm cho các sản phẩm thêu nhẹ nhàng hơn hoặc thậm chí có thể tạo sức hấp dẫn riêng của hàng thêu; ví dụ kiểu thêu đăng - ten và thêu rút sợi. Các vật liệu dệt chỉ được gia công bằng quy trình đơn giản là rút bỏ các sợi chỉ không nằm trong nhóm này. Với một số loại hàng thêu nhất định, mẫu thêu như mong muốn đầu tiên được phác họa hoặc nhồi vào một đường chỉ lót để làm cho mẫu nổi hơn. Một số máy sản xuất hàng thêu khác nhau, đặc biệt là đồ thêu bóng móc và vải mutsơlin đã thêu, bề ngoài rất giống các loại vải musơlin dùng để trang trí khác và các loại vải trang trí khác (ví dụ vải thêu nổi) được phân loại trong các Chương từ 50 đến 55. Tuy nhiên, có thể phân biệt các sản phẩm này qua các đặc điểm sau do phương pháp sản xuất đưa lại. Ở vải trang trí nổi (broché), vì mẫu được sản xuất bằng các sợi trang trí nổi được đưa vào trong suốt quá trình dệt, mỗi phần của các mẫu thiết kế luôn luôn nằm giữa sợi ngang hoặc sợi dọc của tấm vải nền; trái lại ở các tấm vải nền thêu, tấm vải nền được dệt trước khi sản xuất các mẫu trên bề mặt. Để có được các mẫu này, tấm vải nền được căng ra trên máy thêu vì vậy độ căng và vị trí của vải không thể ăn khớp hoàn toàn với các mũi kim của máy dệt đề lồng toàn bộ các phần tương ứng của đồ thêu một cách chính xác giữa các sợi dọc và sợi ngang giống nhau thuộc vải nền. Hơn nữa, các mũi kim xuyên các sợi của tấm vải nền thì không xảy ra đối với các tấm vải trang trí nổi (broché). Các đặc điểm phân biệt vải trang trí nổi và vải thêu này có thể được thấy bằng việc tước các đường biên của mẫu.

(III) THÊU ĐÍNH Sản phẩm thêu đính gồm có một tấm nền làm từ vải dệt hoặc phớt mà trên tấm nền này được may bằng các mũi thêu hoặc các mũi khâu thông thường:

(A) Các hạt trang trí, các đồng xê-quin hoặc các đồ trang trí tương tự; các đồ trang trí này thường được làm bằng thủy tinh, gelatin, kim loại hoặc gỗ và chúng được khâu để tạo ra một mẫu trang trí hoặc một mẫu rải trên tấm vải nền.

(B) Những hoa văn trang trí từ vật liệu dệt hoặc các vật liệu khác. Những hoa văn này thường là một tấm vải dệt (kể cả đăng ten), làm bằng kiểu dệt khác với kiểu dệt của tấm vải nền và các hoa văn trang trí được cắt theo nhiều kiểu khác nhau và chúng được đính vào tấm vải nền; trong một số trường hợp nhất định, tấm vải nền bị gỡ ra ở vị trí đã được đính mẫu hoa văn.

(C) Sợi trang trí, sợi viền hoặc các loại trang trí khác vv... tạo mẫu trên tấm vải nền. Tất cả các loại hàng thêu khác nhau đã mô tả ở trên vẫn được phân loại trong nhóm này khi ở các dạng sau:

(1) Dạng chiếc hay dạng dải với độ rộng khác nhau. Dạng chiếc hay dạng dải này có một loạt các mẫu thêu giống nhau, bất kể có hay không có ý định cho việc tách rời sau đó để tạo ra các sản phẩm hoàn thiện (ví dụ, các dải nhãn thêu để làm nhãn các loại quần áo, hoặc các mảnh đã thêu tại những khoảng cách bình thường đã tính phải cắt và tạo thành các dải yếm).

(2) Ở dạng có mẫu trang trí hoa văn, ví dụ, các sản phẩm mẫu đã thêu riêng biệt không có chức năng nào khác ngoài chức năng được kết hợp hoặc được khâu đính như là những chi tiết của đồ thêu như cho quần áo lót hoặc các loại quần áo hoặc đồ trang trí nội thất. Những hoa văn trang trí này có thể được cắt thành hình bất kỳ, được bồi hoặc được lắp ghép lại. Chúng bao gồm các phù hiệu, hình vẽ tượng trưng, miếng nhận diện, tên họ viết tắt, các con số, hình ngôi sao, huy hiệu quốc gia hoặc huy hiệu thể thao vv... Nhóm này không bao gồm:

(a) Hàng thêu trên vật liệu không dệt (ví dụ: da, nhựa, liễu gai, bìa cứng).

(b) Các loại thảm trang trí thêu tay (nhóm 58.05).

(c) Các bộ sản phẩm gồm có vải dệt thoi và sợi để tạo thành các loại khăn trải bàn hoặc khăn đã thêu hoặc các loại tương tự (nhóm 63.08).

(d) Sản phẩm thêu (trừ các loại hoa văn trang trí) được sản xuất theo phương pháp nêu tại Phần II thuộc Chú giải tổng quát Phần XI, ở dạng hay không ở dạng các loại sản phẩm thêu đã hoàn tất để sử dụng. Các loại đồ thêu cá nhân đã hoàn tất để sử dụng, các sản phẩm này đã được thêu trực tiếp theo mẫu cuối cùng của chúng mà không cần thêm quá trình sản xuất nào khác nữa. Phần lớn các loại sản phẩm này được phân loại như là các sản phẩm hoàn chỉnh (Chương 61, 62, 63 hoặc 65) và bao gồm, ví dụ như khăn tay, tạp dề, cổ tay áo, cổ áo, áo lót, quần áo, khăn trải, các loại khăn dùng để trải, khăn trải bàn và màn.

(e) Hàng thêu bằng sợi thủy tinh không lộ nền (nhóm 70.19). ***

Chú giải phân nhóm.

Phân nhóm 5810.10 Phân nhóm này không bao gồm các loại hàng thêu đăng ten (broderie anglaise).

Câu hỏi thường gặp về mã HS 5810

Mã HS của Hàng thêu dạng chiếc, dạng dải hoặc dạng theo mẫu hoa văn là gì?

Hàng thêu dạng chiếc, dạng dải hoặc dạng theo mẫu hoa văn thuộc nhóm HS 5810, gồm 4 mã HS 8 chữ số (ví dụ: 58101000, 58109100, 58109200, 58109900…). Xem bảng đầy đủ mã và thuế suất phía trên.

Thuế nhập khẩu Hàng thêu dạng chiếc, dạng dải hoặc dạng theo mẫu hoa văn là bao nhiêu?

Thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi (MFN) của Hàng thêu dạng chiếc, dạng dải hoặc dạng theo mẫu hoa văn là 12%. Thuế suất thông thường và ưu đãi đặc biệt theo hiệp định FTA có thể khác — xem chi tiết từng mã trong bảng.

Thuế GTGT (VAT) của Hàng thêu dạng chiếc, dạng dải hoặc dạng theo mẫu hoa văn là bao nhiêu?

Thuế giá trị gia tăng (VAT/GTGT) áp dụng phổ biến là 8% hoặc 10%.

Hàng thêu dạng chiếc, dạng dải hoặc dạng theo mẫu hoa văn có được ưu đãi thuế theo hiệp định FTA nào không?

Nhiều mã HS thuộc nhóm 5810 được hưởng thuế suất nhập khẩu ưu đãi đặc biệt theo các hiệp định thương mại tự do Việt Nam tham gia (ATIGA, ACFTA, CPTPP, EVFTA, RCEP…) khi có chứng nhận xuất xứ (C/O) phù hợp. Mức ưu đãi cụ thể tra theo từng mã HS.

Nhóm hàng liên quan (Chương 58)

Nguồn: Biểu thuế xuất nhập khẩu 2026 và các thông tư thuế GTGT hiện hành. Số liệu mang tính tham khảo, vui lòng đối chiếu văn bản gốc khi khai báo.

Dữ liệu tổng hợp bởi Weimex – công ty giao nhận vận tải (freight forwarder) tại Hà Nội. Công cụ tra cứu biểu thuế · Trang chủ