Mã HS nhóm 5808 – Các dải bện dạng chiếc; dải, mảnh trang trí dạng chiếc, không thêu, trừ loại dệt kim hoặc móc; tua, ngù và các mặt hàng tương tự
Áp dụng theo Biểu thuế XNK 2026 (hiệu lực từ 01/01/2026)
Các dải bện dạng chiếc; dải, mảnh trang trí dạng chiếc, không thêu, trừ loại dệt kim hoặc móc; tua, ngù và các mặt hàng tương tự (nhóm HS 5808) gồm 4 mã HS 8 chữ số. Thuế suất nhập khẩu ưu đãi 12%. Thuế GTGT (VAT) 8% hoặc 10%. Bảng dưới đây liệt kê đầy đủ mã HS 8 chữ số kèm mô tả, đơn vị tính, thuế suất nhập khẩu ưu đãi, thuế nhập khẩu thông thường và thuế GTGT.
| Mã HS | Mô tả (VN) | Mô tả (EN) | ĐVT | NK ưu đãi | NK thông thường | VAT |
|---|---|---|---|---|---|---|
5808 | Các dải bện dạng chiếc; dải, mảnh trang trí dạng chiếc, không thêu, trừ loại dệt kim hoặc móc; tua, ngù và các mặt hàng tương tự | |||||
580810 | - Các dải bện dạng chiếc: | |||||
58081010 | - - Kết hợp với sợi cao su | - - Combined with rubber thread | m/chiếc | 12 | 18 | 8/10 |
58081090 | - - Loại khác | - - Other | m/chiếc | 12 | 18 | 8/10 |
580890 | - Loại khác: | |||||
58089010 | - - Kết hợp với sợi cao su | - - Combined with rubber thread | m/chiếc | 12 | 18 | 8/10 |
58089090 | - - Loại khác | - - Other | m/chiếc | 12 | 18 | 8/10 |
Chú giải nhóm 5808
58.08 - Các dải bện dạng chiếc; dải, mảnh trang trí dạng chiếc, không thêu, trừ loại dệt kim hoặc móc; tua, ngù và các mặt hàng tương tự.
5808.10 - Các dải bện dạng chiếc
5808.90 - Loại khác
(A) CÁC DẢI BỆN DẠNG CHIẾC; DẢI, MẢNH TRANG TRÍ DẠNG CHIẾC, KHÔNG THÊU, TRỪ CÁC LOẠI DỆT KIM HOẶC MÓC Ngoài các loại dải bện, phần (A) của nhóm này gồm có nhiều sản phẩm khác nhau về chiều dài, được thiết kế để trang hoàng hoặc trang trí các loại quần áo (ví dụ như quần áo phụ nữ, trang phục quân đội, trang phục lễ hội cho các giáo sĩ, trang phục sân khấu) hoặc các loại trang trí nội thất (kể cả đồ trang trí tàu thuyền hoặc xe cộ). Chúng có thể được gắn các móc, khóa, lỗ xâu, dây và các sản phẩm bổ trợ tương tự, với điều kiện đặc điểm các loại hàng thành phẩm của chúng không bị ảnh hưởng; chúng được trang trí bằng các đồng Sêquyn, các chuỗi hạt, và các phụ kiện tương tự, miễn là những loại này không được gán bằng kỹ thuật gán hình (appliqué work) mà với kỹ thuật này chúng được phân loại như hàng thêu thuộc nhóm 58.10. Các sản phẩm được phân loại vào nhóm này gồm có :
(1) Các dải bện hình dẹt hoặc hình ống. Các dải này thu được bằng cách đan chéo các sợi, hoặc sợi monofilament, mảnh và các loại tương tự thuộc Chương 54. Đối với các dải bện hình dẹt, các sợi chỉ chạy chéo từ một mép biên này đến một mép biên khác theo hình zig-zag hoặc kiểu phức tạp hơn, trái lại, các dải bện hình ống có các sợi chỉ chạy theo đường xoắn ốc; trong cả hai trường hợp một nửa số sợi chạy theo một hướng và nửa còn lại chạy theo hướng khác và kết lại theo một kiểu có sẵn, kiểu có sẵn này thường rất đơn giản. Trong một số loại dải bện, các sợi phụ có thể được kết lại với nhau theo chiều dài của tấm vải hoặc giữ các biên vải, hoặc được đặt ở phần nối tiếp để sản xuất các kiểu mẫu. Các loại dải bện được sản xuất bằng một loại máy đặc biệt gọi là máy tết băng vải hoặc máy có các suốt chỉ. Sự đa dạng của dải bện kể cả dây buộc (ví dụ dây buộc giầy hoặc ủng), các dây viền, các dải trang trí, các dây thừng trang trí, các dải trang sức bện,... Dải bện hình ống có thể có một lõi dệt. Dải bện được sử dụng để làm đường viền trang trí cho một số loại quần áo (ví dụ dây viền trang trí) hoặc các đồ trang trí nội thất (dây buộc rèm), các vỏ bọc ngoài dây điện, một số loại dây buộc giầy nhất định hoặc các dây buộc áo choàng hay bộ trang phục hoặc các dây đai lưng của bộ áo choàng (của giáo sư đại học hoạc của quan tòa)... Các loại vải bện như vậy khác với các loại sản phẩm được tết hoặc bện thuộc nhóm 56.07 căn cứ vào các nếp gấp của nó lỏng và cấu trúc của nó cũng kém chặt chẽ hơn. Tuy vậy, nói chung nhóm này loại trừ các loại vải bện được nêu cụ thể hơn ở các nhóm hàng khác và cụ thể:
(a) Dải bện làm từ sợi monofilament có diện tích mặt cắt ngang trên 1 mm hoặc làm từ dải và các dạng tương tự độ rộng trên 5mm bằng plastic hoặc làm từ vật liệu tết bện khác (nhóm 46.01).
(b) Dây xe, chão bện, dây thừng, dây cáp và chỉ giả catgut được tết bện thuộc nhóm 56.07.
(c) Các loại bấc dùng cho các loại đèn, các loại lò, các loại bật lửa, các loại nến hoặc những loại tương tự (nhóm 59.08).
(d) Ống dẫn và các loại ống tương tự (nhóm 59.09).
(e) Băng tải, băng truyền hoặc các loại băng đai thuộc nhóm 59.10.
(f) Các loại sản phẩm dùng trong kỹ thuật thuộc nhóm 59.11 (ví dụ: các loại dây được sử dụng trong công nghiệp như là vật liệu bôi trơn hoặc đóng gói).
(g) Khóa kéo (nhóm 96.07), và móc, mắt cài khóa hoặc các bấm nén, bằng kim loại thường, cố định tại các khoảng trên dải bện, miễn là các móc và mắt khóa và bấm nén tạo nên đặc điểm cơ bản cho các sản phẩm (nhóm 83.08 hoặc 96.06 tùy từng trường hợp).
(2) Dây thừng milan và dây thừng tương tự: Các loại này là các sản phẩm dải viền giống như sợi được nẹp viền nhưng có lõi dày hơn gồm có một bó sợi hoặc các sợi dệt thô mà các sợi dệt thô này được xoắn trong suốt quá trình nẹp viền. Thường thì chúng được làm thành dải bằng các loại sợi đã được xe chặt. Chúng được phân loại ở đây theo chiều dài và được sử dụng như các đồ trang trí có sẵn, để cho việc sản xuất các loại đai trang sức, kéo mành cửa... Nhóm này loại trừ các sợi kim loại được phủ bằng các nguyên liệu dệt, ví dụ:
(a) Dây sắt hoặc thép dùng cho việc sản xuất khung mũ (dây thép của người làm nón mũ) và cuống bằng dây thép hoặc sắt dùng làm hoa giả hoặc làm dụng cụ uốn tóc (nhóm 72.17).
(b) Dây điện cách điện (nhóm 85.44)
(3) Vải dệt thoi khổ hẹp với các tua (đã rạch hoặc đã cắt) được dệt thành mép của chúng. Những sản phẩm này được sản xuất trên các máy dệt ruy băng, việc bố trí trên các biên vải được sản xuất bằng các thao tác bằng tay từ sợi ngang hoặc bằng cách sử dụng các sợi dọc thô lỏng được xem như roquetins. Trong trường hợp đầu tiên, sợi ngang không tạo thành một đường viền với 2 sợi chỉ dọc ngoài nhưng lại trải ra vượt quá 2 sợi dọc để tạo thành các móc; những cái móc này có được bằng cách đưa các sợi ngang quay quanh hai hoặc nhiều sợi kim loại trên máy dệt, sợi này song song đối với sợi dọc và được rút đi một khi tấm vải được hoàn tất. Trong trường hợp thứ hai, các sợi thớ nhão được kết hợp chặt chẽ tạo thành đường viền tại các khoản bằng các sợi ngang nhất định - trong khi các dây giữ sợi này từ tấm vải tại các khu vực đan xen, vì thế tạo thành các móc. Các móc được sản xuất bằng những quá trình này có thể có khoảng cách rộng hơn hoặc kém rộng hơn và đặt cách nhau với độ rộng đều nhau hay không đều nhau. Đôi khi chúng bị cắt để tạo thành một đường biên có tua, đường biên có tua này sau đó có thể được thắt nút lại hoặc được trang trí với những núm tua, các ngù,... Những loại vải dệt thoi khổ hẹp này được sử dụng chủ yếu cho việc trang trí nội thất hoặc các loại quần áo. Các loại ruy băng hoặc viền và ruy băng răng cưa không được xếp tại nhóm này (nhóm 58.06).
(4) Các dải trang trí thành phẩm khác ở dạng chiếc. Nhóm này cũng bao gồm nhiều sản phẩm có bề rộng, hẹp khác nhau có độ dài phù hợp để sử dụng trang trí quần áo, trang trí nội thất,... Những loại sản phẩm này thường được sản xuất từ ruy băng hoặc các loại băng, dải, viền hoặc các sản phẩm khác đã nêu trên. Chúng có thể được làm bằng việc may hoặc bằng cách khác, hoặc bằng cách lắp ghép hai hoặc nhiều loại ruy băng và dải với nhau để tạo trang trí (ví dụ: các ruy băng hoặc các dải có các đồ trang trí hoặc dải trang trí hoặc các dải trang điểm; các dải ruy băng hoặc các băng, dải viền cùng với các quả tua hoặc các đồ trang trí khác được lồng vào tại các khoảng cách dọc theo chiều dài, trừ bằng kỹ thuật thêu. Nhóm này không bao gồm các dải trang trí bằng dệt kim hoặc móc thuộc các nhóm từ 60.02 đến 60.06.
(B) TUA, NGÙ VÀ CÁC MẶT HÀNG TƯƠNG TỰ Không giống như các sản phẩm của phần (A) trên, các sản phẩm này là các sản phẩm đơn chiếc độc lập và bao gồm các tua, ngù trang trí đủ các cỡ và các hình dạng và các đầu trang trí cho các dải trang trí nội thất...ví dụ:
(1) Các lõi (bằng gỗ hoặc các vật liệu khác) được bao bọc bằng các sợi dệt có các đầu mút đôi khi được treo lơ lửng - nhiều loại được xếp gọn nhiều loại được trang trí với các dây đăng ten hoặc với nhiều núm trang trí.
(2) Các bó đơn giản của sợi dệt được gấp hoặc buộc bằng các đầu mút treo lỏng.
(3) Các lõi có màu ôliu hoặc lõi hình quả (bằng gỗ, bằng giấy,...) được bọc bằng các chất liệu dệt, đôi khi bằng một lõi mở cho phép để sử dụng như một vòng trượt.
(4) Ngù gồm các sợi ngắn được đan với nhau một cách chắc chắn ở giữa và các sợi chĩa ra mọi hướng. Tất cả những loại này có thể được lắp một cái móc nhằm để gắn; chúng được dùng chủ yếu để trang trí nội thất nhưng cũng dùng trong may mặc. Chúng có đặc điểm trang trí nổi trội hơn. Nhóm này không bao gồm các loại đồ trang trí riêng biệt trừ những loại đã nêu trên. Nơ hoa hồng làm bằng các loại dải và dải trang trí thuộc mục này được phân loại trong nhóm 62.17 hoặc 63.07. Các loại quai đeo lưỡi lê, cầu vai và các loại dây buộc làm từ dải bện và dải trang trí được phân loại ở nhóm 62.17 và các dây giày, dây coocxê,... từ các chất liệu này, có các đầu mút được bện với nhau hoặc được xử lý cách khác để ngăn sổ sợi, cũng như các thắt nút (swordknot) làm bằng những chất liệu này được phân loại ở nhóm 63.07. Rất nhiều vật liệu được sử dụng trong việc sản xuất các loại sản phẩm thuộc nhóm này. Các vật liệu bao gồm tơ, lông cừu, lông động vật mịn, bông, sợi lanh, sợi nhân tạo và sợi trộn kim loại. Bên cạnh các loại trừ nêu trên, nhóm này không bao gồm các dải trang trí là các dải dệt thoi đơn giản như nêu tại định nghĩa về vải dệt thoi khổ hẹp (nhóm 58.06).
Câu hỏi thường gặp về mã HS 5808
Mã HS của Các dải bện dạng chiếc; dải, mảnh trang trí dạng chiếc, không thêu, trừ loại dệt kim hoặc móc; tua, ngù và các mặt hàng tương tự là gì?
Các dải bện dạng chiếc; dải, mảnh trang trí dạng chiếc, không thêu, trừ loại dệt kim hoặc móc; tua, ngù và các mặt hàng tương tự thuộc nhóm HS 5808, gồm 4 mã HS 8 chữ số (ví dụ: 58081010, 58081090, 58089010, 58089090…). Xem bảng đầy đủ mã và thuế suất phía trên.
Thuế nhập khẩu Các dải bện dạng chiếc; dải, mảnh trang trí dạng chiếc, không thêu, trừ loại dệt kim hoặc móc; tua, ngù và các mặt hàng tương tự là bao nhiêu?
Thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi (MFN) của Các dải bện dạng chiếc; dải, mảnh trang trí dạng chiếc, không thêu, trừ loại dệt kim hoặc móc; tua, ngù và các mặt hàng tương tự là 12%. Thuế suất thông thường và ưu đãi đặc biệt theo hiệp định FTA có thể khác — xem chi tiết từng mã trong bảng.
Thuế GTGT (VAT) của Các dải bện dạng chiếc; dải, mảnh trang trí dạng chiếc, không thêu, trừ loại dệt kim hoặc móc; tua, ngù và các mặt hàng tương tự là bao nhiêu?
Thuế giá trị gia tăng (VAT/GTGT) áp dụng phổ biến là 8% hoặc 10%.
Các dải bện dạng chiếc; dải, mảnh trang trí dạng chiếc, không thêu, trừ loại dệt kim hoặc móc; tua, ngù và các mặt hàng tương tự có được ưu đãi thuế theo hiệp định FTA nào không?
Nhiều mã HS thuộc nhóm 5808 được hưởng thuế suất nhập khẩu ưu đãi đặc biệt theo các hiệp định thương mại tự do Việt Nam tham gia (ATIGA, ACFTA, CPTPP, EVFTA, RCEP…) khi có chứng nhận xuất xứ (C/O) phù hợp. Mức ưu đãi cụ thể tra theo từng mã HS.
Nhóm hàng liên quan (Chương 58)
- 5801 – Các loại vải dệt nổi vòng và các loại vả
- 5802 – Vải khăn lông (terry) và các loại vải dệ
- 5803 – Vải dệt quấn, trừ các loại vải khổ hẹp t
- 5804 – Các loại vải tuyn và các loại vải dệt lư
- 5805 – Thảm trang trí dệt thoi thủ công theo ki
- 5806 – Vải dệt thoi khổ hẹp, trừ các loại hàng
- 5807 – Các loại nhãn, phù hiệu và các mặt hàng
- 5809 – Vải dệt thoi từ sợi kim loại và vải dệt
- 5810 – Hàng thêu dạng chiếc, dạng dải hoặc dạng
- 5811 – Các sản phẩm dệt đã chần (quilted) dạng
Nguồn: Biểu thuế xuất nhập khẩu 2026 và các thông tư thuế GTGT hiện hành. Số liệu mang tính tham khảo, vui lòng đối chiếu văn bản gốc khi khai báo.
Dữ liệu tổng hợp bởi Weimex – công ty giao nhận vận tải (freight forwarder) tại Hà Nội. Công cụ tra cứu biểu thuế · Trang chủ