Mã HS nhóm 9027 – Dụng cụ và thiết bị phân tích lý hoặc hóa học (ví dụ, máy đo phân cực, đo khúc xạ, quang phổ kế, máy phân tích khí hoặc khói); dụng cụ và thiết bị đo hoặc kiểm tra độ nhớt, độ xốp, độ giãn nở, sức căng bề mặt hoặc các loại tương tự; dụng cụ và thiết bị đo hoặc kiểm tra nhiệt lượng, âm lượng hoặc ánh sáng (kể cả máy đo độ phơi sáng); thiết bị vi phẫu
Áp dụng theo Biểu thuế XNK 2026 (hiệu lực từ 01/01/2026)
Dụng cụ và thiết bị phân tích lý hoặc hóa học (ví dụ, máy đo phân cực, đo khúc xạ, quang phổ kế, máy phân tích khí hoặc khói); dụng cụ và thiết bị đo hoặc kiểm tra độ nhớt, độ xốp, độ giãn nở, sức căng bề mặt hoặc các loại tương tự; dụng cụ và thiết bị đo hoặc kiểm tra nhiệt lượng, âm lượng hoặc ánh sáng (kể cả máy đo độ phơi sáng); thiết bị vi phẫu (nhóm HS 9027) gồm 8 mã HS 8 chữ số. Thuế suất nhập khẩu ưu đãi 0%. Thuế GTGT (VAT) 8% hoặc 10%. Bảng dưới đây liệt kê đầy đủ mã HS 8 chữ số kèm mô tả, đơn vị tính, thuế suất nhập khẩu ưu đãi, thuế nhập khẩu thông thường và thuế GTGT.
| Mã HS | Mô tả (VN) | Mô tả (EN) | ĐVT | NK ưu đãi | NK thông thường | VAT |
|---|---|---|---|---|---|---|
9027 | Dụng cụ và thiết bị phân tích lý hoặc hóa học (ví dụ, máy đo phân cực, đo khúc xạ, quang phổ kế, máy phân tích khí hoặc khói); dụng cụ và thiết bị đo hoặc kiểm tra độ nhớt, độ xốp, độ giãn nở, sức căng bề mặt hoặc các loại tương tự; dụng cụ và thiết bị đo hoặc kiểm tra nhiệt lượng, âm lượng hoặc ánh sáng (kể cả máy đo độ phơi sáng); thiết bị vi phẫu | |||||
90271000 | - Thiết bị phân tích khí hoặc khói | - Gas or smoke analysis apparatus | chiếc/bộ | 0 | 5 | 8/10 |
90272000 | - Máy sắc ký và điện di | - Chromatographs and electrophoresis instruments | chiếc/bộ | 0 | 5 | 8/10 |
90273000 | - Quang phổ kế, ảnh phổ và quang phổ ký sử dụng bức xạ quang học (tia cực tím, tia có thể nhìn thấy được, tia hồng ngoại) | - Spectrometers, spectrophotometers and spectrographs using optical radiations (UV, visible, IR) | chiếc/bộ | 0 | 5 | 8/10 |
90275000 | - Dụng cụ và thiết bị khác sử dụng bức xạ quang học (tia cực tím, tia có thể nhìn thấy được, tia hồng ngoại) | - Other instruments and apparatus using optical radiations (UV, visible, IR) | chiếc/bộ | 0 | 5 | 8/10 |
| - Dụng cụ và thiết bị khác: | ||||||
90278100 | - - Khối phổ kế | - - Mass spectrometers | chiếc/bộ | 0 | 5 | 8/10 |
902789 | - - Loại khác: | |||||
90278910 | - - - Lộ sáng kế | - - - Exposure meters | chiếc/bộ | 0 | 5 | 8/10 |
90278990 | - - - Loại khác | - - - Other | chiếc/bộ | 0 | 5 | 8/10 |
90279000 | - Thiết bị vi phẫu; các bộ phận và phụ kiện | - Microtomes; parts and accessories | chiếc/bộ | 0 | 5 | 8/10 |
Chú giải nhóm 9027
90.27 - Dụng cụ và thiết bị phân tích lý hoặc hóa học (ví dụ, máy đo phân cực, đo khúc xạ, quang phổ kế, máy phân tích khí hoặc khói); dụng cụ và thiết bị đo hoặc kiểm tra độ nhớt, độ xốp, độ giãn nở, sức căng bề mặt hoặc các loại tương tự; dụng cụ và thiết bị đo hoặc kiểm tra nhiệt lượng, âm lượng hoặc ánh sáng (kể cả máy đo độ phơi sáng); thiết bị vi phẫu.
9027.10 - Thiết bị phân tích khí hoặc khói
9027.20 - Máy sắc ký và điện di
9027.30 - Quang phổ kế, ảnh phổ và quang phổ ký sử dụng bức xạ quang học (tia cực tím, tia có thể nhìn thấy được, tia hồng ngoại)
9027.50 - Dụng cụ và thiết bị khác sử dụng bức xạ quang học (tia cực tím, tia có thể nhìn thấy được, tia hồng ngoại)
- Dụng cụ và thiết bị khác:
9027.81 - - Khối phổ kế
9027.89 - - Loại khác
9027.90 - Thiết bị vi phẫu; các bộ phận và phụ kiện
Nhóm này bao gồm:
(1) Các phân cực kế, dùng để đo góc quay của mặt phẳng phân cực một tia sáng khi xuyên qua một chất hoạt động quang học. Chúng thường có một nguồn sáng, một dụng cụ quang học gồm lăng kính phân cực và lăng kính phân tích, một giá đựng ống để chứa vật chất cần phân tích, một kính quan sát và một thang đo. Phân cực kế điện tử ngoài những chi tiết quang học cần thiết của một phân cực kế truyền thống, còn có một tế bào quang điện.
(2) Dụng cụ phân tích bản ảnh để phân tích ánh sáng bị phân cực thẳng hoặc theo hình ê-líp.
(3) Dụng cụ đo nồng độ đường, những phân cực kế đặc biệt dùng để xác định hàm lượng đường trong các dung dịch ngọt.
(4) Khúc xạ kế dùng để xác định chỉ số khúc xạ của các chất lỏng hoặc rắn (là một trong những hằng số quan trọng nhất để đánh giá độ tinh khiết các chất). Gồm chủ yếu một hệ thống lăng kính, kính quan sát và đọc, một thiết bị điều chỉnh nhiệt độ (vì nhiệt độ có ảnh hưởng rất lớn đến chỉ số khúc xạ). Chúng được sử dụng rộng rãi, cụ thể là trong các ngành công nghiệp thực phẩm (kiểm tra các loại dầu, bơ và chất béo khác, phân tích các loại mứt và nước hoa quả, v.v...), trong công nghiệp thủy tinh, lọc dầu, trong sinh học (đo hàm lượng prôtêin trong huyết tương hoặc các chất tiết ra,...). Phần lớn các khúc xạ kế đều đặt trên một giá đỡ hoặc đế; những loại khác thì để cầm tay, một số cấu tạo để gắn vào các thành của các bể chế tạo.
(5) Các phổ kế để đo bước sóng của các tia phổ phát xạ hoặc phổ hấp thụ. Chúng cần có một ống chuẩn trực có khe điều chỉnh được (là nơi mà ánh sáng cần phân tích sẽ đi qua), một hay nhiều lăng kính thủy tinh định hướng được, một kính quan sát và một bàn lăng trụ. Một số quang phổ kế (cụ thể được dùng để phân tích tia hồng ngoại hoặc cực tím) dùng các lăng kính hoặc mạng nhiễu xạ. Nhóm này bao gồm: kính quang phổ để quan sát phổ; các quang phổ ký để ghi phổ trên một tấm ảnh hoặc phim (phổ đồ); các đơn sắc kế, dùng chủ yếu để tách một tia nào đó của phổ hoặc để tách các phần nhất định trong phổ liên tục. Nhưng nhóm này không bao gồm các kính thiên văn quang phổ và các quang phổ ký dùng trong quan sát mặt trời (nhóm 90.05); các máy chiếu quang phổ để kiểm tra một quang phổ đã được khuyếch đại chiếu, trên màn hình (nhóm 90.08); các kính hiển vi vi kế và các máy so sánh quang phổ có các kính hiển vi (để nghiên cứu so sánh các phổ ký bằng quan sát quang học) (nhóm 90.11) và các dụng cụ phân tích phổ để đo hoặc kiểm tra các đại lượng điện (nhóm 90.30).
(6) Các phổ ký trọng lượng và các thiết bị tương tự dùng chủ yếu để phân tích cấu tạo đồng vị v.v... của các chất. Song các thiết bị để tách đồng vị bị loại trừ (nhóm 84.01).
(7) Các dụng cụ đo màu - sắc kế. Từ này áp dụng cho hai loại dụng cụ khác nhau. Loại thứ nhất dùng để xác định màu của một chất (lỏng hoặc rắn), bằng cách ghép trùng hợp màu của chất đó với màu của một hỗn hợp đạt được bằng những tỷ lệ biến đổi nhưng đo được của ba màu cơ bản (đỏ, lục và xanh). Loại thứ hai dùng trong các phân tích hoá học hoặc sinh hoá để xác định nồng độ (đậm đặc) của một chất có trong một dung dịch bằng cách so sánh màu của chất (hoặc màu của chất đó sau khi xử lý bằng một thuốc thử) với màu các tấm chuẩn hoặc chất lỏng chuẩn. Trong một loại sắc kế thuộc loại thứ hai, một dung dịch để thử nghiệm và một dung dịch chuẩn được chứa trong 2 ống nghiệm, mà có thể được xem xét nhờ hai lăng kính qua một thị kính. Một số sắc kế nhất định thì dựa trên việc sử dụng các tế bào quang điện. Một vài công cụ khác của loại đó dùng một dải giấy, nhúng thuốc thử làm thay đổi màu sau khi phản ứng với một loại khí. Những công cụ đó gồm hai tế bào quang điện, một để đo màu trước và một đo màu sau phản ứng với khí. Nhóm này cũng bao gồm các sắc kế có thể kèm theo những thiết bị phân tích quang học khác như: máy đo độ đục (xác định độ đục trong các dung dịch), hấp thụ kế, huỳnh quang kế (để xác định huỳnh quang được dùng rộng rãi cho việc phân tích hàm lượng vitamin, alkaloid...), khí cụ đo độ trắng và khí cụ đo độ mờ (chuyên dùng để đo độ trắng, độ mờ và độ sáng chói trong bột giấy, giấy...).
(8) Các thiết bị phân tích khí hoặc khói để phân tích khí đốt hoặc sản phẩm phụ (khí đã đốt) cụ thể là trong các lò than cốc, máy chế khí than, các lò cao... để xác định hàm lượng của các axit carbon dioxit/khí carbonic, carbon monoxit, oxy, hydro, nitơ hoặc các hợp chất hữu cơ. Các thiết bị điện phân tích khí và khói được dùng chủ yếu trong các nhà máy để đo thành phần các khí sau đây: khí cacbonic (carbon dioxit), carbonmonoxit và hydro, oxy, hydro, sunphurơ, amoniac. Một vài thiết bị đó hoạt động bằng cách xác định phân lượng thể tích các khí đã đốt hoặc bị hấp thụ bởi những chất hoá học thích hợp, chủ yếu gồm:
(i) Dụng cụ orsat, gồm chủ yếu một chai/lọ hút khí, một hoặc nhiều ống hút hoặc ống đo.
(ii) Dụng cụ đốt hoặc nổ gồm thêm một ống đốt hoặc nổ (ống nhỏ bằng bạch kim, ống bằng sợi bạch kim hoặc palladium (Pd) có bộ phận đánh lửa cảm ứng...) Các loại đó còn có thể phối hợp với nhau. Trong những kiểu khác, người ta thao tác theo tỷ trọng hoặc bằng ngưng tụ và chưng cất từng phần, hoặc còn dựa trên các nguyên lý sau đây:
(i) Tính chất dẫn nhiệt của một khí
(ii) Hiệu ứng nhiệt của các khí đốt trên một điện cực (ví dụ hỗn hợp carbon monoxit với hydro trong các khí thải).
(iii) Hấp thụ có chọn lọc các tia cực tím, quang phổ nhìn được, hồng ngoại hoặc vi sóng bằng một khí cần nghiên cứu.
(iv) Chênh lệch độ thấm từ của các khí.
(v) Phản ứng phát quang hoá học giữa khí với một thành phần của khí phụ thích hợp.
(vi) Ion hoá hydrocarbon bằng ngọn lửa hydro.
(vii) Chênh lệch giữa độ dẫn điện của một thuốc thử chất lỏng thích hợp trước khi và sau khi phản ứng với chất khí.
(viii) Phản ứng điện hoá trong các tế bào với dung dịch điện phân hoặc chất rắn (đặc biệt ôxit zircon để phân tích oxy). Lưu ý rằng, nhóm này gồm có các thiết bị phân tích khí hoặc khói để sử dụng trong sản xuất công nghiệp (tức là được nối trực tiếp với các lò nung, các lò chế khí đốt, v.v...) Nhưng những dụng cụ phân tích khí chỉ giản đơn bằng thủy tinh trong phòng thí nghiệm thuộc nhóm 70.17.
(9) Các máy dò khói điện tử, dùng cho lò nung, lò đốt... ví dụ những máy mà trong đó, một chùm tia sáng (hoặc hồng ngoại) được chiếu trực tiếp lên trên một tế bào quang điện. Tùy theo mật độ của làn khói, sự di chuyển của chùm tia này qua làn khói sẽ gây ra những thay đổi trong dòng của mạch tế bào quang điện, do đó làm vận hành một dụng cụ chỉ báo có thang chia độ hoặc một hệ thống ghi và trong một số trường hợp nhất định thì là van điều chỉnh. Những khí cụ đó có thể được trang bị một thiết bị báo động. Các máy dò khói bằng điện chỉ trang bị một cơ cấu báo động duy nhất thuộc nhóm 85.31.
(10) Máy đo khí nổ mỏ than và dụng cụ phát hiện khí khác (ví dụ cho khí CO2). Các thiết bị này có thể mang theo được để dò khí khác trong các hầm mỏ, đường hầm, để phát hiện rò rỉ trong đường ống,...
(11) Thiết bị đo bụi trong các khí. Các thiết bị này hoạt động bằng cách đưa một lượng khí nhất định qua một đĩa lọc được cân đo trước và sau khi kiểm tra. Nhóm này bao gồm các bụi kế/ thiết bị đo bụi, để đo hàm lượng bụi trong không khí và để kiểm tra các mặt nạ chống bụi, bộ lọc..., chúng gồm có chủ yếu một khoang bụi bọc kính đen, một nguồn sáng, một đầu quang kế có cơ cấu lăng kính đo và vòng tròn thang độ để đọc các góc quay.
(12) Thiết bị đo hàm lượng oxy để xác định oxy đã hoà tan trong các chất lỏng bằng việc sử dụng một tế bào phân cực hoặc bằng phản ứng hoá học giữa tali (Tl) với oxy hoà tan (đo sự thay đổi trong độ dẫn điện phân giải).
(13) Dụng cụ phân cực để xác định các thành phần của chất lỏng, ví dụ cặn kim loại hoà tan trong nước bằng việc đo và đánh giá hệ thức dòng điện/điện trở của các điện cực nhúng trong dung dịch.
(14) Dụng cụ phân tích bằng hoá ẩm để xác định các thành phần hữu cơ hoặc vô cơ của chất lỏng, ví dụ cặn kim loại, phosphate, nitrat, clorua, hoặc các tham số tổng hợp như "nhu cầu oxy hóa học (COD)" hoặc "tổng hàm lượng của carbon hữu cơ (TOC)". Thiết bị phân tích gồm một máy chuẩn bị mẫu phân tích, máy phân tích có các điện cực nhạy cảm với ion, các quang kế hoặc phân cực ký và một cơ cấu điều chỉnh trong các dụng cụ phân tích tự động.
(15) Các thước đo nhớt và loại tương tự dùng để xác định độ nhớt (tức là: ma sát trong của chất lỏng). Chúng có thể dựa trên:
(i) Nguyên lý của ống mao quản, việc đo thời gian yêu cầu khi chất lỏng chảy qua ống dưới áp lực không đổi (thiết bị đo độ nhớt Ostwald, Engler...).
(ii) Hiệu ứng ma sát giữa một chất rắn và một chất lỏng. hoặc (iii) Bằng phương pháp đo thời gian rơi của viên bi qua một môi trường lỏng.
(16) Các phân cực nghiệm (thiết bị quan sát biến dạng) để đo các biến dạng bên trong của thủy tinh (các biến dạng là kết quả của các quá trình làm dai, tôi, hàn..., mà dễ làm cho thủy tinh vỡ ra). Chúng cần có một khoang trong đó có chứa một đèn điện, một thiết bị phát tán ánh sáng, một bộ phân cực và một kính quan sát phân cực. Các ứng suất trong thủy tinh được chỉ ra như các màu sắc sáng chói.
(17) Dụng cụ đo độ giãn nở để đo các giãn nở hoặc co ngót của các vật liệu như thép, hợp kim, than luyện …, xảy ra theo các thay đổi của nhiệt độ. Các dụng cụ đó thường là loại tự ghi (việc ghi cơ học trên đồ thị hoặc bằng chụp ảnh).
(18) Dụng cụ xác định độ xốp hoặc độ thấm (đối với nước, không khí hoặc các chất khí khác, v.v...), được gọi là máy đo độ xốp hoặc máy đo độ thấm (không nên nhầm với các dụng cụ đo độ từ thẩm của các chất). Chúng được dùng cho các chất như giấy, sợi dệt, vải, plastic, da thuộc, cát, v.v...
(19) Dụng cụ để đo sức căng bề mặt hoặc mặt tiếp xúc của các chất lỏng (ví dụ, cân xoắn). Sức căng bề mặt hoặc mặt tiếp xúc của chất lỏng được xác định bằng một trong ba yếu tố sau: trọng lượng một giọt nước rơi từ một ống mao quản cho trước (hoặc một số giọt có thể tích đã biết) (phương pháp trọng lượng giọt); chiều cao tăng lên tự do của chất lỏng trong ống mao quản có đường kính đã định (phương pháp chiều cao mao dẫn); hoặc lực cần thiết để kéo một vòng nhẫn ra khỏi mặt chất lỏng ngâm nó.
(20) Các dụng cụ (thẩm thấu kế) xác định áp suất thẩm thấu, có nghĩa là áp suất xuất hiện khi hai chất lỏng có thể hoà trộn được tách khỏi nhau bằng một màng ngăn có độ thẩm thấu theo từng phần nhưng không đều với hai chất lỏng đó.
(21) Dụng cụ thử dầu mỏ và các dẫn xuất từ dầu (cũng như các nhựa đường, bitum, asphalt). Chúng bao gồm các thiết bị để xác định điểm chớp cháy, điểm đông, điểm thành keo, điểm chảy, điểm rơi..., của dầu khoáng, điểm chảy của sáp paraphin, hàm lượng nước, hàm lượng cặn, hàm lượng lưu huỳnh, độ quánh mỡ và nhựa đường, điểm đục, điểm đông lạnh,...
(22) Thước đo nồng độ pH và các khí cụ đo thế năng oxy hoá khử (thước rH). Thước pH thường để đo một đại lượng trong đó đánh giá tính chất axit hay kiềm của một dung dịch hoặc hỗn hợp (nước tinh khiết biểu hiện tiêu chuẩn trung tính). Thước rH dùng để đo khả năng oxy hoá hoặc giảm oxy hoá của một dung dịch. Các khí cụ trên sử dụng nhiều nguyên lý khác nhau; trong đó thường dùng nhất là loại dùng hệ thống đo điện, dựa trên việc dùng các điện cực tạo ra các hiệu điện thế tỷ lệ thuận với nồng độ pH hoặc rH của dung dịch. Những khí cụ đó không những dùng để đo mà còn làm chức năng điều chỉnh tự động.
(23) Dụng cụ sử dụng hiện tượng điện di, dựa trên sự thay đổi nồng độ được tạo ra trong một dung dịch khi một dòng điện một chiều đi qua. Các hạt tích điện di chuyển theo các tốc độ khác nhau tùy theo từng loại sản phẩm. Các công cụ đó thường tích hợp một dụng cụ quang trắc, dụng cụ quang trắc này có một tế bào quang điện, và một vi ampe kế được chia thang độ trực tiếp theo đơn vị của mật độ quang học. Dùng chủ yếu cho phân tích các dung dịch khác nhau (protein, axit amin,...), nghiên cứu các chất như plasma, hormone, virut, enzyme...hoặc nghiên cứu các hiện tượng polyme hoá.
(24) Các sắc ký (ở thể lỏng, thể khí, thể ion hoặc từng lớp mỏng) dùng để xác định các thành phần của khí hoặc chất lỏng. Khí hoặc chất lỏng được phân tích thì đi qua những cột hoặc lớp mỏng của một chất hấp thụ, sau đó được đo bởi một máy dò. Thời gian truyền qua các cột hoặc các lớp mỏng của chất hấp thụ chỉ ra các đặc tính của các khí hoặc chất lỏng cần phân tích, trong khi cường độ tín hiệu đầu ra của máy dò chỉ ra định lượng của các thành phần khác nhau cần phân tích.
(25) Các công cụ chuẩn độ điện tử sử dụng các điện cực đo để chuẩn độ nước, muối bạc, halogen, v.v....
(26) Các công cụ phân tích - đôi khi được gọi là “ẩm kế dùng cho chất rắn” dựa trên hằng số điện môi các chất, truyền dẫn điện, năng lượng điện từ hấp thụ hoặc tia hồng ngoại của các chất.
(27) Dụng cụ đo tính dẫn điện để xác định độ dẫn điện phân giải hoặc nồng độ muối, axit hoặc bazơ hoà tan trong các chất lỏng.
(28) Các vi quang kế và mật độ kế tế vi bằng tế bào quang điện để đo mật độ các phim phổ ký và để phân tích tất cả các hiện tượng được ghi trên một nhũ tương ảnh.
(29) Các quang kế dùng để đo cường độ ánh sáng. Đặt ánh sáng cần đo và nguồn ánh sáng chuẩn sao cho chúng chiếu lên một mặt phẳng cho trước với cùng một cường độ - thay vì so sánh cường độ hai ánh sáng, người ta so sánh các phổ tương ứng của chúng bằng cách sử dụng quang phổ kế. Quang kế được sử dụng rất nhiều trong các quá trình quang học hoặc các phân tích khác nhau (để xác định nồng độ, độ sáng, độ trong suốt của các chất rắn; độ phơi sáng của các tấm hoặc phim ảnh (vi quang kế); độ đậm nét màu sắc trong suốt hoặc đục của các chất rắn hoặc của các dung dịch. Một số quang kế dùng trong nhiếp ảnh hoặc làm phim được biết đến như các dụng cụ đo thời gian lộ sáng và được dùng để đo thời gian phơi sáng hoặc xác định độ mở ống kính máy ảnh.
(30) Các lux kế (dùng để đo độ sáng, bằng đơn vị “lux”, của một nguồn phát sáng).
(31) Các nhiệt lượng kế dùng để đo các số lượng nhiệt bị hấp thụ hoặc thoát ra bởi một chất rắn, lỏng hoặc khí. Trong đó có các loại chính sau:
(A) Nhiệt lượng kế nước đá (Nhiệt lượng kế Bunsen) dựa trên các biến đổi thể tích được tạo ra khi nước đá tan chảy. Gồm có một ống thử được bao quanh bằng nước đá, ngâm trong một bể đầy nước và một ống nhỏ có thang độ chứa thủy ngân.
(B) Nhiệt lượng kế nung (Nhiệt lượng kế Berthelot) dựa trên nguyên lý chuyển đổi các đại lượng nhiệt. Chúng gồm chủ yếu một bình đo nhiệt lượng bên trong có chứa đầy nước đặt trong một chậu cũng chứa nước; chúng được lắp với những nhiệt kế và thiết bị quấy. Dựa trên nguyên lý đó, có hai loại nhiệt lượng kế:
(i) Nhiệt lượng kế xác định nhiệt đặc biệt của các khí hoặc nhiên liệu chất lỏng. Trong các dụng cụ này người ta cho nước chảy qua một khoang ở đó đốt cháy một lượng khí hoặc chất lỏng và đo chênh lệch nhiệt độ của nước lúc vào và lúc ra.
(ii) Nhiệt lượng kế bom, dùng để xác định lượng nhiệt đốt vật liệu, gồm một bình thép (bom), chứa một chất rắn hoặc lỏng được xác định dùng để thử nghiệm và cả oxy dưới áp suất. Bằng một dụng cụ thích hợp, người ta tạo ra việc đốt mẫu thử trong oxy và lượng nhiệt thoát ra được xác định bằng cách đặt bom đó trong một nhiệt lượng kế nước. Cùng nằm trong các nhóm này là các nhiệt lượng kế sử dụng trong công nghiệp; chúng được lắp vào các lò sản suất khí với công suất calo đã được xác định. Tuy nhiên, nếu các dụng cụ đó được nối với những thiết bị điều chỉnh có chức năng duy trì hỗn hợp khí ở mức công suất calo theo mong muốn thì bị loại trừ (thường thuộc nhóm 90.32).
(32) Khí cụ nghiệm lạnh và khí cụ nghiệm sôi, trừ loại có đặc tính của đồ thủy tinh dùng trong phòng thí nghiệm (nhóm 70.17).
(33) Dụng cụ và thiết bị dùng trong phòng thí nghiệm lâm sàng để xét nghiệm chẩn đoán in vitro. * *** Nhóm này cũng gồm các dao vi cắt dùng để cắt thành mảnh cực mỏng trong thực hành kính hiển vi, có độ dày đã định theo các mẫu của các chất cần nghiên cứu. Trong số đó có dao vi cắt thủ công (kiểu lưỡi dao cạo), dao vi cắt quay, dao vi cắt lạng (trên mặt phẳng hoặc mặt phẳng nghiêng).
CÁC BỘ PHẬN VÀ PHỤ KIỆN
Theo các Chú giải 1 và 2 của Chương này (xem Chú giải tổng quát), các bộ phận hay phụ kiện của những dụng cụ hay máy móc nói trên cũng được phân loại vào nhóm này miễn là có thể nhận biết rõ là chúng được dùng hoàn toàn hay chủ yếu cho những dụng cụ hay máy móc đã được kể ở trên. * *** Nhóm này không bao gồm:
(a) Những thiết bị dùng trong phòng thí nghiệm (bình pha lê có vòi, lọ, ống thổi, tách, chậu,... và tương tự) bằng vật liệu chịu lửa (nhóm 69.03) và những mặt hàng tương tự bằng vật liệu gốm khác (nhóm 69.09).
(b) Dụng cụ thủy tinh trong phòng thí nghiệm (nhóm 70.17) (xem thêm các miêu tả chi tiết dưới đây).
(c) Các kính hiển vi (nhóm 90.11 hoặc 90.12).
(d) Các cân chính xác (nhóm 90.16).
(e) Máy tia X, v.v... (nhóm 90.22).
(f) Các thiết bị trưng bày (nhóm 90.23).
(g) Máy và thiết bị để thử một số vật liệu (nhóm 90.24).
(h) Các tỷ trọng kế, nhiệt kế, ẩm kế và các dụng cụ tương tự khác thuộc nhóm 90.25, có hoặc không dùng trong các phòng thí nghiệm.
(ij) Các thiết bị thuộc nhóm 90.26. *** Việc phân loại các mặt hàng có khả năng nằm trong phạm vi của nhóm này và cả nhóm 70.17 (dụng cụ thủy tinh trong phòng thí nghiệm). Trong những trường hợp như vậy để xác định thuộc nhóm nào trong hai nhóm, nên xem xét những nhận xét sau:
(1) Nếu một thiết bị có các đặc tính cần thiết của thủy tinh (dù có hoặc không được chia độ, có hoặc không có chất gắn và các kết nối phụ,... từ cao su, v.v...) thì không được phân loại trong nhóm này ngay cả khi nó được gọi thông thường như các thiết bị hoặc dụng cụ riêng biệt.
(2) Nói chung, các dụng cụ dễ dàng mất đi các đặc tính cần thiết của thủy tinh khi chúng có một phần là thủy tinh còn đa phần làm từ nguyên liệu khác; hoặc nếu chúng có các bộ phận làm từ thủy tinh được lắp hoặc gắn cố định trên các khung, giá, hộp hoặc các dạng tương tự.
(3) Việc kết hợp các bộ phận thủy tinh với các công cụ đo đạc (ví dụ áp kế, nhiệt kế...) thực tế có thể cung cấp những cơ sở để xem các khí cụ như vậy phù hợp được phân loại trong nhóm này. Trên cơ sở đó, sẽ đưa các công cụ sau đây vào nhóm 70.17 - khi chúng hình thành từ thủy tinh và có thang chia độ đơn giản: Thiết bị đo hàm lượng chất béo trong sữa và dụng cụ tương tự trong thử nghiệm các sản phẩm sữa; các thiết bị đo albumin và urê; các ống đo khí; thể tích; nitơ, dụng cụ Kipps hoặc Kjeldahl và các công cụ tương tự, các canxi kế, các nghiệm lạnh và sôi kế để xác định trọng lượng phân tử... * *** Nhóm này cũng loại trừ các máy móc và thiết bị (có hoặc không dùng điện) của loại được phân loại trong Phần XVI, có hoặc không được xét đến các công cụ hiệu suất thấp, kích thước thu nhỏ và cả về cấu tạo chung như đã biết chúng rõ ràng được sử dụng trong các phòng thí nghiệm (chủ yếu để chuẩn bị và xử lý các vật mẫu). Do đó, trường hợp các lò đốt; nồi hấp; tủ sấy hoặc máy sấy khô; máy nghiền trộn; máy li tâm; nồi chưng cất; máy ép, lọc, lọc ép và máy khuấy... không thuộc nhóm này. Tương tự như vậy, các thiết bị đun nhiệt (đèn Bunsen, bồn tắm hơi ...), các công cụ, đồ nội thất dùng cho các phòng thí nghiệm (bàn thí nghiệm, giá kính hiển vi, tủ xông khói) và các bàn chải sẽ được phân loại theo nhóm riêng phù hợp của chúng (Phần XV, Chương 94 hoặc Chương 96).
Câu hỏi thường gặp về mã HS 9027
Mã HS của Dụng cụ và thiết bị phân tích lý hoặc hóa học (ví dụ, máy đo phân cực, đo khúc xạ, quang phổ kế, máy phân tích khí hoặc khói); dụng cụ và thiết bị đo hoặc kiểm tra độ nhớt, độ xốp, độ giãn nở, sức căng bề mặt hoặc các loại tương tự; dụng cụ và thiết bị đo hoặc kiểm tra nhiệt lượng, âm lượng hoặc ánh sáng (kể cả máy đo độ phơi sáng); thiết bị vi phẫu là gì?
Dụng cụ và thiết bị phân tích lý hoặc hóa học (ví dụ, máy đo phân cực, đo khúc xạ, quang phổ kế, máy phân tích khí hoặc khói); dụng cụ và thiết bị đo hoặc kiểm tra độ nhớt, độ xốp, độ giãn nở, sức căng bề mặt hoặc các loại tương tự; dụng cụ và thiết bị đo hoặc kiểm tra nhiệt lượng, âm lượng hoặc ánh sáng (kể cả máy đo độ phơi sáng); thiết bị vi phẫu thuộc nhóm HS 9027, gồm 8 mã HS 8 chữ số (ví dụ: 90271000, 90272000, 90273000, 90275000, 90278100…). Xem bảng đầy đủ mã và thuế suất phía trên.
Thuế nhập khẩu Dụng cụ và thiết bị phân tích lý hoặc hóa học (ví dụ, máy đo phân cực, đo khúc xạ, quang phổ kế, máy phân tích khí hoặc khói); dụng cụ và thiết bị đo hoặc kiểm tra độ nhớt, độ xốp, độ giãn nở, sức căng bề mặt hoặc các loại tương tự; dụng cụ và thiết bị đo hoặc kiểm tra nhiệt lượng, âm lượng hoặc ánh sáng (kể cả máy đo độ phơi sáng); thiết bị vi phẫu là bao nhiêu?
Thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi (MFN) của Dụng cụ và thiết bị phân tích lý hoặc hóa học (ví dụ, máy đo phân cực, đo khúc xạ, quang phổ kế, máy phân tích khí hoặc khói); dụng cụ và thiết bị đo hoặc kiểm tra độ nhớt, độ xốp, độ giãn nở, sức căng bề mặt hoặc các loại tương tự; dụng cụ và thiết bị đo hoặc kiểm tra nhiệt lượng, âm lượng hoặc ánh sáng (kể cả máy đo độ phơi sáng); thiết bị vi phẫu là 0%. Thuế suất thông thường và ưu đãi đặc biệt theo hiệp định FTA có thể khác — xem chi tiết từng mã trong bảng.
Thuế GTGT (VAT) của Dụng cụ và thiết bị phân tích lý hoặc hóa học (ví dụ, máy đo phân cực, đo khúc xạ, quang phổ kế, máy phân tích khí hoặc khói); dụng cụ và thiết bị đo hoặc kiểm tra độ nhớt, độ xốp, độ giãn nở, sức căng bề mặt hoặc các loại tương tự; dụng cụ và thiết bị đo hoặc kiểm tra nhiệt lượng, âm lượng hoặc ánh sáng (kể cả máy đo độ phơi sáng); thiết bị vi phẫu là bao nhiêu?
Thuế giá trị gia tăng (VAT/GTGT) áp dụng phổ biến là 8% hoặc 10%.
Dụng cụ và thiết bị phân tích lý hoặc hóa học (ví dụ, máy đo phân cực, đo khúc xạ, quang phổ kế, máy phân tích khí hoặc khói); dụng cụ và thiết bị đo hoặc kiểm tra độ nhớt, độ xốp, độ giãn nở, sức căng bề mặt hoặc các loại tương tự; dụng cụ và thiết bị đo hoặc kiểm tra nhiệt lượng, âm lượng hoặc ánh sáng (kể cả máy đo độ phơi sáng); thiết bị vi phẫu có được ưu đãi thuế theo hiệp định FTA nào không?
Nhiều mã HS thuộc nhóm 9027 được hưởng thuế suất nhập khẩu ưu đãi đặc biệt theo các hiệp định thương mại tự do Việt Nam tham gia (ATIGA, ACFTA, CPTPP, EVFTA, RCEP…) khi có chứng nhận xuất xứ (C/O) phù hợp. Mức ưu đãi cụ thể tra theo từng mã HS.
Nhóm hàng liên quan (Chương 90)
- 9001 – Sợi quang và bó sợi quang; cáp sợi quang
- 9002 – Thấu kính, lăng kính, gương và các bộ ph
- 9003 – Khung và gọng cho kính đeo, kính bảo hộ
- 9004 – Kính đeo, kính bảo hộ và các loại tương
- 9005 – Ống nhòm loại hai mắt, ống nhòm đơn, kín
- 9006 – Máy ảnh (trừ máy quay phim); thiết bị đè
- 9007 – Máy quay phim và máy chiếu phim, có hoặc
- 9008 – Máy chiếu hình ảnh, trừ máy chiếu phim;
- 9010 – Máy và thiết bị dùng trong phòng làm ảnh
- 9011 – Kính hiển vi quang học phức hợp, kể cả l
- 9012 – Kính hiển vi trừ kính hiển vi quang học;
- 9013 – Thiết bị tạo tia laser, trừ đi-ốt laser;
Nguồn: Biểu thuế xuất nhập khẩu 2026 và các thông tư thuế GTGT hiện hành. Số liệu mang tính tham khảo, vui lòng đối chiếu văn bản gốc khi khai báo.
Dữ liệu tổng hợp bởi Weimex – công ty giao nhận vận tải (freight forwarder) tại Hà Nội. Công cụ tra cứu biểu thuế · Trang chủ